Lời tự sự của Vô Ưu

23:01 |
II. Lời tự  sự  của Vô Ưu
Có một dịp, tôi cùng trò chuyện với một người học Phật lớn tuổi về giáo lý, kinh điển của đạo Phật. Người học Phật đó đã chấp chặt góp ý: Tôi hãy nên quy y Tam bảo, hãy là một người xuất gia nhằm thuận lợi cho việc hoằng dương chánh pháp.
Tôi thiết nghĩ: Đạo Phật vốn không phải là một tôn giáo. Vì người đời ngộ nhận đạo Phật là một tôn giáo nên đã tách rời đời đạo. Tôi cũng rất muốn xuất gia, xa rời chuyện thế tục, chuyện cơm áo, gạo tiền,… nhưng tôi cũng biết rằng khi tôi xuất gia thì tôi sẽ bị mọi người tách ra khỏi chuyện đời. Việc hợp nhất đời đạo sẽ gặp nhiều khó khăn và số người tin theo và tìm hiểu về chánh pháp sẽ lại hạn chế ở giới hạn trong những tín đồ đạo Phật. Hơn nữa, ngay trong nội bộ của Phật giáo đã và đang có sự phân chia về tông giáo, thứ bậc, ngôi vị,… Muốn có một vị trí đủ để người học Phật coi trọng tôi sẽ phải mất 10, 20, 30,… năm. Tôi sẽ mất một khoảng thời gian lâu xa, không nhiều lợi ích như vậy thì mới có thể danh chánh, ngôn thuận hoằng pháp. Tôi cũng không mong cầu được mọi người trọng vọng. Vậy thôi tôi đi con đường khác để thành tựu Phật đạo.
Người học Phật lại nói: Hay là tôi đang có ý định lập ra một tôn giáo mới?
Tôi nói: Tôi sẽ không lập ra một tôn giáo mới. Ngay như đạo Phật với giáo lý chứa đựng sự hiểu biết giác ngộ giải thoát mà còn khiến người đời ngộ nhận, lầm lạc, mê mờ,… Phật giáo khiến cho lòng người điên đảo. Tôi không muốn làm lòng người thêm rối loạn, sẽ không có một tôn giáo mới nào được thành hình.
Người học Phật lớn tuổi bất bình: Ai cho phép tôi nói Phật giáo làm điên đảo lòng người?
Tôi lại nghĩ: Quả thật giáo lý nhà Phật chứa đựng phương pháp giúp người thoát khổ, thoát khỏi luân hồi khi con người nhận ra và sống được với chân giá trị. Nhưng khi con người bị trói vào giáo lý thì kinh Phật lại khiến con người thêm điên đảo, mê lầm,…
Thật vậy, khi Phật rõ biết con người vì lầm lạc, ngộ nhận: Thân chẳng tịnh mà cho rằng tịnh, thọ vốn khổ mà cho rằng vui, vọng tâm không thường tại mà cho rằng thường tại, tâm vốn vô ngã mà cho rằng có ngã. Từ những ngộ nhận, lầm lạc,… mà con người đau khổ, chìm nổi trong luân hồi. Đây là vọng tưởng chấp có của người đời. Phật đã thông qua giáo lý kinh điển nhằm phá chấp có của con người bằng vô thường, khổ, không, vô ngã.
Đáng buồn là người học Phật lại rơi vào kiến chấp: Thân không vốn tịnh mà khởi tưởng chẳng tịnh, thọ vốn ở chỗ không mà khởi tưởng là khổ, tâm vốn chân thường mà khởi tưởng là vô thường, vô ngã là chân ngã mà khởi tưởng là vô ngã. Đây là vọng tưởng chấp không của người học Phật hàng nhị thừa.
Hiện nay người học Phật rơi vào chấp không, chấp có thật sự là rất nhiều. Người học Phật muốn được giải thoát hoàn toàn hoặc xa lìa mọi khổ não ở kiếp người thì phải dùng sự hiểu biết chân chánh lìa bỏ vọng tưởng chấp có chấp không, nhằm xa rời mộng tưởng điên đảo về cứu cánh Niết bàn.
Quy y Tam bảo là tự tâm quy y chứ không phải tuyên đọc quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là có thể thành Phật. Tìm về đạo giải thoát là tôi tìm cách thoát khổ và thành Phật. Hiển nhiên là không một ai có thể cấp bằng quả vị Phật cho tôi. Thế nên việc học giáo lý nhà Phật qua trường lớp cũng chỉ là việc “Múc nước tìm trăng”. Bởi lẽ sẽ không có một trường học, một ngôi chùa nào có thể dạy con người thành Phật. Đó cũng chỉ là một hình thức nhằm truyền giữ pháp Phật. Việc dựa vào số năm tu và thời gian nhập thất,… là chỉ nhằm phân định ngôi vị, thứ bậc hòa thượng, thượng tọa, đại đức,… chứ không nói lên sự tỏ ngộ của người học Phật.
Giới, Định, Huệ là ba môn học của người học Phật cần phải thông suốt.
Người học Phật hàng đại thừa: Bên ngoài chẳng tìm có, bên trong chẳng giữ không gọi là Giới. Một niệm chẳng sinh, muôn duyên không lặng gọi là Định. Khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét gọi là Huệ.
Người học Phật hàng tiểu thừa: Chỉ chấp nơi thân, dứt trừ tham lam, sân hận, si mê,… gọi là Giới. Chấp pháp, dứt sự biểu hiện oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi; chú trọng ngồi thiền gọi là Định. Chỉ chứng thiên không mất lý trung đạo rồi cho là Huệ. Cho nên ngài Duy Ma Cật gọi là pháp Tiểu thừa, là pháp nghèo, là vùi lấp định huệ.
Qua bộ sách mà tôi gởi đến mọi người. Chỉ cần khách quan nhận xét bạn sẽ rõ biết tôi đã thực sống trong con người của Phật, Lão Tử, Lục tổ Huệ Năng,… Thế nên việc tôi muốn hóa thân thành Phật Di Lặc hạ sinh hoặc làm ngài Duy Ma Cật,… sẽ dễ dàng như việc úp bàn tay, ngửa bàn tay. Nhưng tôi không cần chứng minh sự giác ngộ giải thoát của bản thân. Tôi và Phật đã cùng đi trên một con đường nhưng bối cảnh xã hội thì có phần sai biệt. Xã hội thời Phật sống cách đã đây hơn 2500 năm, khoa học chưa phát triển, phương tiện đi lại còn nhiều hạn chế, phương tiện truyền thông là rất lạc hậu. Thông tin được trao truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng,... Và trên hết là giáo lý chánh pháp về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn chưa được trao truyền trong nhân loại. Vì thế Phật phải một phen dấn bước vào con đường truyền đạo. Thời Phật tại thế, con người là một chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Ngày nay giáo lý nhà Phật đã được trao truyền rộng khắp. Nhưng do sự hiểu biết được nâng lên, tri thức nhân loại đã hoài nghi về sự giải thoát hoàn toàn. Tôi may mắn đạt được sự tỏ ngộ để biết rằng con đường giải thoát hoàn toàn là thật có. Tôi sẽ vì bi nguyện của Phật và các vị Tổ góp phần làm sống lại chánh pháp dựa vào nền tảng, bối cảnh xã hội hiện tại. Hiện nay, phương tiện đi lại là rất thuận tiện, phương tiện truyền thông đa dạng. Việc in ấn sách báo, internet và sự hiểu biết của con người cũng đã nâng cao sẽ thuận tiện cho việc tôi hoằng pháp. Điều cốt yếu tôi cần làm là xóa bỏ sự hoài nghi của nhân loại về sự có hay không có thế giới tâm linh, về sự luân hồi trong 3 cõi 6 đường và sự giải thoát hoàn toàn. Tôi sẽ không phải bước từng bước chân trần trên đường để trao truyền chánh pháp như Phật Thích Ca đã từng làm.
Tôi chỉ làm một việc duy nhất là viết 5 quyển sách nói về chánh pháp nhằm giúp mọi người tin nhận vào sự tồn tại của sự giải thoát hoàn toàn và bạn sẽ là người giúp tôi trao truyền sự thật này đến cho nhân loại. Điều này thật sự là cần thiết vì bạn sẽ giúp cho nhân loại giảm trừ sự đau khổ, đẩy lùi chiến tranh, thù hận và giúp trái đất được cân bằng, an toàn trở lại.
Việc cần làm tôi đã hoàn thành. Rồi sẽ có người hỏi tôi: “Mai này tôi sẽ về đâu?”. Câu trả lời sẽ là: “Tùy duyên”. Có thể tôi sẽ sống giữa đời thường, làm một con người bình thường, tự tại, thoát ra khỏi tranh đua lợi danh, được mất,... Có thể tôi sẽ làm một người xuất gia, gìn giữ pháp bảo. Có thể tôi sẽ không còn nữa khi một ai đó đến nhận lại trái tim, đôi mắt, quả thận, lá gan,… Hoặc là khi tôi rõ biết lòng người đã loạn, chánh pháp chẳng còn người tin nhận, hành trì,… thì tôi sẽ đi tìm một giấc ngủ sâu,…
Có một sự thật là trước ngày 27/12/2010, tôi đã từng nghĩ về việc làm cách nào để nhân loại dứt trừ sự khổ đau, thù hận và chiến tranh? Làm cách nào để cứu lấy trái đất? Làm cách nào để người sống có thể sống an lạc, tự tại? Và làm cách nào tôi giữ vững chánh định?
Đã từng có lúc tôi nghĩ sẽ hành trì thoát ra khỏi tấm thân giả tạm như những người đệ tử Phật đã từng làm nhằm giữ lấy chánh định thoát khỏi luân hồi. Tôi rõ biết - Tôi sẽ không mất nhiều thời gian để đạt được khả năng “ve sầu thoát xác” nhưng về sau tôi nhận ra Phật đã sống tự tại đến lúc cuối đời. Thế nên tôi sẽ không trốn chạy, rũ bỏ xác thân giả tạm khi chưa thực sự cần thiết. Tuy nhiên, tôi đã từng nói “Bất kỳ ai cũng có thể nhận lấy trái tim, đôi mắt, lá gan,… khi cần lấy”. Việc tôi đã hứa thì tôi sẽ giữ lấy lời. Bạn cũng đừng cho rằng vì sĩ diện hão mà tôi phải cố thực hiện lời đã hứa. Với tôi bây giờ sống hay không sống không có nhiều sự khác biệt.
Mặc dù tôi không che giấu mục đích viết bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị con người” nhưng vẫn có không ít người hoài nghi, không hiểu những việc tôi đã, đang và sẽ làm. Những người học Phật thì lại muốn trói buộc tôi bước những bước đi giống như là Phật đã từng đi. Chỉ khi đó tôi mới trở thành đệ tử của một bậc giác ngộ, tỉnh thức. Sau đó, tôi mới có thể hoằng dương chánh pháp. Nhưng với tôi đó không phải là chánh pháp. Chánh pháp đơn giản chỉ là xóa bỏ khổ đau có trong lòng nhân loại, là sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Cho dù tôi hóa thân vào vai trò một người xuất gia thì đã sao? Phải chăng khi đó tôi có thể giúp mọi người học Phật đều tin nhận, hành trì và sống trong chánh pháp? Có lẽ điều này là không đúng. Bởi vì ngay khi Phật Thích Ca đang tại thế mà đệ tử Phật còn phạm giới, còn có cả Đề bà đạt đa ganh ghét, hãm hại nhằm tranh đoạt vị trí dẫn dắt Tăng đoàn. Vấn đề tồn tại ở đạo Phật hiện nay chính là việc nhân loại và người học Phật đã, đang hoài nghi tính chân thật của con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Tri thức nhân loại cần một sự khẳng định đảm bảo đúng đắn, hợp lý về chánh pháp dựa trên cơ sở khoa học và khách quan. Tôi đã xác thực lại tính thực tiễn và tính khả dụng của đạo Phật qua những quyển sách. Vấn đề còn lại là nhân loại hoặc là bạn sẽ nhìn nhận những vấn đề tôi trình bày và lĩnh hội những vấn đề đó ra sao? Qua bộ sách tôi cũng đã trình bày con đường giải thoát hoàn toàn rõ ràng. Nếu bạn muốn bước ra 3 cõi 6 đường thì bạn chỉ việc xác định lại con đường bạn đang đi. Việc tôi đạt đạo hay không đạt đạo, việc gặp hay không gặp tôi đối với bạn sẽ không có nhiều ý nghĩa và giá trị. Nếu bạn muốn học hỏi về giáo lý của đạo Phật thì có lẽ các vị Tăng bảo sẽ chỉ dẫn cho bạn tốt hơn.

Tôi chỉ muốn gợi nhớ lại trong bạn có đầy đủ đức tính thiện ác, xấu tốt, hèn hạ - cao quý, thánh thiện - tàn ác,… Những bậc thánh nhân và Phật cũng đều có những đức tính như thế. Sự khác biệt là họ đã trân quý sự sống của chính họ và của tất cả mọi loài; Họ đã sống với tình yêu thương bao la, cao cả trong suốt cuộc đời. Thế nên họ thành Thánh nhân. Riêng Phật ngoài tâm từ, tâm bi đối với chúng sinh trong 6 đường, Người còn có sự hiểu biết cùng tột và Người dùng sự hiểu biết hướng dẫn con người những phương pháp nhằm giúp con người tự mình thoát ra mọi khổ não ở hiện đời, đặt nền móng vững chắc về sự hiểu biết trí tuệ về con đường giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi. Vì lẽ đó bạn đừng biến Phật thành những vị Thần, vị Thánh xa lạ với đầy đủ những thần thông, phép thuật huyễn hoặc,... Phật không trông mong nhân loại cúng bái, nguyện cầu, lễ lạy,… và cũng không mong được thần thánh hóa. Phật chỉ muốn làm một con người bình dị sống giữa đời, là người chỉ dẫn con đường chánh pháp chân thật giúp con người và chúng sinh trong 3 cõi đạt được sự giải thoát hoàn toàn. 

Mây trắng về đâu?

21:52 |
Chương III
Ánh trăng tan
   
      I. Mây trắng về đâu?

Dưới cái nhìn của trí tuệ Bát nhã, Phật Thích Ca Mâu Ni là không từng sinh ra, là Như Lai không có sự đến đi. Dưới cái nhìn của một người kính ngưỡng Bậc thầy giác ngộ, tôi sẽ rõ biết Phật là người có tấm lòng cao cả, vĩ đại. Dù Phật là người yêu phong cảnh thiên nhiên yên bình, trầm mặc,… thích cuộc sống nhàn cư, tự tại,… thoát ra mọi ràng buộc, đua tranh,… của đời thường. Việc Phật thoát ra khỏi mọi phiền não, giải thoát khỏi luân hồi giống như là con cá thoát ra khỏi tấm lưới. Lẽ dĩ nhiên là con cá sẽ không muốn vướng lại tấm lưới một lần nữa. Nếu có nghĩ về cái ăn, cái mặc,… về những tháng ngày già nua Phật sẽ quay về với những người thân yêu, cùng sống những ngày tháng êm đềm, hạnh phúc. Nhưng trong bước đường tìm đạo và quá trình quán chiếu tự tánh của vạn pháp, Phật nhìn rõ chúng sinh trong 6 đường vì u mê, thiếu hiểu biết đã làm não hại lẫn nhau, rồi đau khổ chất chồng, chìm nổi trong 3 cõi. Thật đáng thương! Ai sẽ là người chỉ cho con người con đường về sự giải thoát hoàn toàn? Các vị giáo chủ các tôn giáo khác đều đang vướng vào những kiến chấp, những chủ thuyết dựa trên cơ sở tư duy, nhận thức lầm lạc,... Do không dựa trên cơ sở góc nhìn và sự quán chiếu tổng thể, tự thân các vị giáo chủ còn chưa thoát ra khỏi tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn và hoài nghi; Chưa thật sự thoát ra khỏi sự khổ não về sinh lão bệnh tử thì làm sao họ có thể chỉ bày cho nhân loại con đường thoát khỏi khổ não, luân hồi. Phật biết rằng - Người sẽ phải dấn thân vào xã hội loài người, giúp con người nhận ra nguyên do họ có mặt trong 3 cõi 6 đường. Đồng thời Người sẽ chỉ bày con đường giải thoát hoàn toàn cho những ai thật sự muốn thoát khỏi luân hồi sinh tử. Phật không vì cá nhân, không vì danh vị Phật, Thế Tôn, Như Lai,… mà tạo lập ra đạo Phật. Thật ra nếu đã có một ai đó đã hiển bày con đường giải thoát hoàn toàn cho nhân loại thì Phật đã không phải mất 49 năm đi khắp Ấn Độ trao truyền chánh pháp. Sự hiểu biết cao tột của Phật thể hiện qua việc Người sớm nhận biết người đời sau sẽ chấp chặt giáo lý kinh điển là chân lý mà không đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Phật đã nói “Bốn mươi chín năm ta chưa từng nói một lời nào”. Nhưng rốt cuộc người đời sau vẫn vướng vào giáo lý, bị kinh Phật trói. Tôi cũng sẽ vì câu nói trên của Đức Phật hiển bày sự chân thật của chánh pháp. Tôi sẽ khẳng định lại: Kinh Phật không phải là chân lý. Kinh Phật là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng. Kinh Phật chưa bao giờ là mặt trăng cả. 

Dứt phàm thành Thánh - Thánh cũng không lập

17:20 |
IV. Dứt phàm thành Thánh - Thánh cũng không lập
Tri thức lầm lạc, người học Phật ngày nay đã mặc nhiên tin rằng: Muốn thoát khỏi luân hồi, giải thoát hoàn toàn phải trải qua rất nhiều đời, nhiều kiếp. Họ đã tự trói việc học Phật vào nhận thức sai lầm đó. Do vậy người học Phật hoài nghi tính xác thực của việc đốn ngộ và tiệm tu. Qua quá trình quán chiếu tam giới. Tôi nhận biết tất cả chúng sinh tồn tại ở 3 cõi 6 đường hiện nay đã từng có mặt cùng thời với Đức Phật Thích Ca. Thậm chí có rất nhiều chúng sinh hiện diện trong 6 đường trước cả thời Phật Thích Ca nhưng việc luân hồi và thiếu chánh định đã khiến cho chúng sinh luân hồi trong 3 cõi chưa tìm được lối ra. Không có bất kì chúng sinh nào hiện diện trong 3 cõi mà lại chưa từng luân hồi vô số kiếp ở nẻo Người.
Con đường tìm đạo, hành đạo của một bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn tôi đã tái hiện lại một cách chân thật và sáng rõ. Bất kỳ ai thông qua những điều tôi trình bày mà có được niềm tin sâu sắc về con đường giải thoát hoàn toàn. Người đó chỉ cần tùy thuận hành trì bát nhã ba la mật - Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ - thì sẽ mau chóng đạt được sự tỏ ngộ. Việc mở lòng ra sống vì mọi người, mọi loài với tình yêu thương chân thật sẽ giúp người đó hòa cái tôi nhỏ bé vào cái tôi nhân loại và muôn vật - Đại ngã. Mãi sống với đại ngã, người đó sẽ quên bỏ cái tôi của chính mình, đạt được vô ngã, thoát ra mọi sự ràng buộc khổ não - Dứt phàm thành thánh.
Việc dứt phàm thành thánh còn có thể dùng trí tuệ, sự hiểu biết nhằm thực hiện việc buông bỏ. Ban đầu là buông bỏ những tính xấu như tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Tiếp theo là buông bỏ tâm phân biệt, so sánh và dính mắc. Cuối cùng là buông bỏ ý niệm cái tôi thường tại có trong tự thân. Bạn sẽ mau chóng đạt quả vị thánh, thoát ra khỏi mọi khổ não. Buông bỏ luôn cả quả vị thánh, bạn sẽ được giải thoát hoàn toàn.

Việc dứt phàm thành thánh, giải thoát hoàn toàn là nhanh hay chậm, là một đời hay nhiều kiếp,… Có thể chỉ trong tích tắc bạn sẽ thành thánh nhưng để được thật sự giải thoát hoàn toàn thì bạn sẽ phải đợi đến khi xác thân trả về cho đất nước gió lửa và tâm sẽ hòa vào hư không. Điều này đòi hỏi người học Phật phải sống thật với bản tâm vắng lặng, không dính mắc thật sự.

Những ai sẽ dũng mãnh bước đi trên con đường giải thoát hoàn toàn

09:36 |
III. Những ai sẽ dũng mãnh bước đi trên con đường giải thoát hoàn toàn
Những người sống trong tận cùng của sự khổ đau và có duyên may được thiện tri thức chỉ dẫn về con đường chánh pháp - Con đường của sự hiểu biết và thương yêu. Người bị đau khổ hành hạ, giày vò,… giống như là một người bị cuốn trôi trong dòng nước chảy siết. Họ sẽ hoảng loạn, tuyệt vọng và chánh pháp như là một chiếc bè giúp họ vượt qua dòng nước dữ. Tuy nhiên không hẳn là họ sẽ qua được bờ bên kia. Vì bởi sau một thời gian hành trì chánh pháp, họ sẽ dần thoát ra khỏi những khổ đau, hoảng loạn,… Phước báo sẽ quay về. Nếu chí hướng thoát khổ, vượt luân hồi sinh tử không kiên định thì người đó sẽ vướng lại những bến bờ hoặc lạc vào lối rẽ,...
Những người sống trong sự giàu sang và dừng lại khởi lên suy tư -Ý nghĩa của sự sống? Duyên may họ có được một quyển sách trong bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị con người”. Chướng ngại của những người giàu sang và nhiều phước báo là họ không thể trực nhận như thật về sự khổ đau não hại con người. Tuy nhiên, họ sẽ nhận biết rồi có lúc họ già, bệnh và chết. Chướng ngại khác của người giàu sang là có rất nhiều thứ quý giá như tài sản, vàng bạc,… Họ phải học cách buông bỏ để không còn dính mắc. Buông bỏ cả những thứ giúp họ trở thành người giàu sang, có đời sống sung túc. Họ phải dùng trí tuệ để quán chiếu sự thật. Vàng bạc, của báu, đất đai, gia đình,… vô thường, xác thân họ cũng vô thường. Chỉ có chân tâm là thường còn. Niềm tin và sự hiểu biết trí tuệ sẽ giúp họ liễu thoát sinh tử.
Những người có sự hiểu biết khách quan, sáng rõ khi đọc những quyển sách của tôi và kinh Phật mà dứt trừ được sự hoài nghi về con đường thoát khỏi luân hồi. Họ sẽ tùy thuận hành trì bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ để tìm về sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Những người học Phật - Cư sĩ tại gia và người xuất gia - Họ sẽ dứt trừ kiến chấp và những sự hiểu biết lầm lạc, ngộ nhận,… về pháp Phật sau khi xem sách. Niềm tin sâu vào sự chân thật, gần gũi về con đường giải thoát hoàn toàn mà Đức Thế Tôn đã dũng mãnh bước đi giúp họ mau chóng đạt quả vị giải thoát.

Tóm lại, bất kỳ ai muốn vượt qua khỏi mọi khổ não, thoát ra khỏi 3 cõi 6 đường điều cốt yếu là phải có niềm tin về con đường giải thoát hoàn toàn là thật có và sự hiểu biết là chìa khoá giúp con người xóa bỏ những hoài nghi, kiến chấp,… nhằm đạt được những tỏ ngộ cần thiết cho sự giải thoát hoàn toàn.

Những bước đi của bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn

02:40 |
II. Những bước đi của bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn
Bất kì một bậc giác ngộ tỉnh thức nào cũng phải trải qua 4 bước sau:
1 - Sống giữa đời thường: Người đó sinh ra, lớn lên và sống trong xã hội loài người. Là người có ít nhiều sự hiểu biết, thuộc dạng người nhạy cảm với những khổ đau trong cuộc sống. Có thể là người đó trực nhận nếm trải hoặc là người đó nhìn người khác khổ đau và có sự đồng cảm sâu sắc. Ý nghĩ  thoát khổ được nuôi lớn dần.
2 - Tu tập, hành trì tìm sự giải thoát hoàn toàn: Ban đầu là chí hướng muốn thoát ly, xa rời sự khổ, ra khỏi luân hồi người đó lên đường tìm đạo. Mục tiêu đầu tiên là giải thoát cho chính mình. Qua học hỏi, hành trì tìm đạo người đó từng bước đạt được những sự tỏ ngộ cần thiết, trí tuệ dần dần khai mở. Sau cùng, người đó đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn - Đạt quả vị A la hán. Mặc dù cùng là giải thoát hoàn toàn nhưng sự  giác ngộ của các bậc Tỉnh thức là có sai khác. Điều này tùy thuộc vào sự hiểu biết, trình độ, căn cơ nhận thức,… Cả sự lao nhọc trên con đường tìm đạo và bi nguyện của mỗi người.
3 - Lập hạnh Bồ tát: Khi nhận biết tánh không của vạn pháp, sống được với chân tâm. Người đó đạt được sự tự tại, giải thoát. Nhìn lại hành trình tìm đạo, nhận thấy người thân và chúng sinh 3 cõi bị khổ não hành hạ. Xót thương khởi tâm từ bi không dính mắc, nhập thế tùy thuận thuyết pháp cứu khổ, độ sinh cho mọi người và mọi loài - Hành Bồ tát đạo.
4 - Thành tựu Pháp vô sanh: Ở bước 2 và 3, người đó đã đạt được thể của tâm - Là sự như như bất động. Riêng ở bước 3 vì còn tấm thân xác thịt người đó khởi dụng của tâm - Làm việc tùy thuận, đối cảnh vô tâm. Cho đến khi tấm thân máu thịt hư hoại, người đó tùy thuận thoát ra khỏi luân hồi. Gieo nhân Phật, gặt quả vị Phật - Phật cũng không lập.

Trên đây là những bước đi chân thật của một người giác ngộ đã phải đi trên con đường giải thoát hoàn toàn.

Dứt phàm thành Thánh

02:42 |
CHƯƠNG II
DỨT PHÀM THÀNH THÁNH
             I. Con Đường Giác Ngộ Giải Thoát Hoàn Toàn.
Qua những gì tôi trình bày có rất nhiều người sẽ đưa ra nhận định lệch lạc, cạn nghĩ. Rốt cuộc Phật cũng chỉ là một con người rất bình thường cũng sinh ra, lớn lên, lập gia đình, sinh con. Rồi từ bỏ gia đình đi tìm đạo lớn. Sau đó, Phật quay lại xã hội loài người thuyết pháp 49 năm rồi chết. Chết là hết! Rất bình thường, không có gì đặc biệt.
Tri thức nhân loại từ lâu đã nhầm lẫn. Nhân loại luôn đi tìm những gì phi thường - Không thật. Chấp giữ những cái không thật cho là chân lý, là thật để rồi lầm lạc chất chồng.
Phật chết là hết. Đó là sự thật, là việc rất bình thường. Nhưng trong sự việc rất đổi bình thường đã có sự phi thường - Phật sẽ không còn “tái sinh” lại làm chúng sinh chịu khổ não trong 6 đường. Dưới con mắt của nhân loại, Phật đã chết trong xác thân máu thịt, nhưng dưới con mắt trí tuệ Phật chưa từng sinh ra. Pháp thân Phật là đất nước gió lửa, là hư không trùm khắp vũ trụ. Đã có lúc vọng tâm thực hiện việc gom góp chút đất nước gió lửa tạo nên một tấm thân hư huyễn rồi tham đắm, tích góp, chìm nổi trong bể khổ. Một trong muôn kiếp người, Phật đã dừng lặng lại, quán chiếu nhằm tìm ra tất cả những nguyên nhân tạo ra sự khổ của mọi chúng sinh ở 3 cõi. Cho đến khi Phật tỏ ngộ vạn pháp thì dừng lại, không chìm nổi trong luân hồi nữa.
Việc luân hồi trong 3 cõi của mọi chúng sinh giống như là những con sóng nhào lên, lộn xuống trên mặt hồ. Sau khi nhận biết sóng từ nước mà có, sóng và nước có cùng bản chất là nước, Phật đã trở về thành nước.
Chết là hết! Liệu bạn có thể làm một việc làm rất bình thường đó không? Hay là bạn cứ mãi trồi lên, tụt xuống trong 3 cõi 6 đường chịu muôn vàn khổ não. Tin thì tốt, không tin thì cũng không sao. Bạn cứ đi con đường bạn chọn và hãy nhớ rằng - Những điều tôi trình bày chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, đó không là mặt trăng. Mặt trăng chính thật ở trong con người bạn.

Có vài điều khác thường trong cuộc đời của Phật Thích Ca. Đó là Phật rất thích cuộc sống an nhàn, tĩnh lặng. Sau ngày thành đạo Phật hoàn toàn có thể sống với lối sống an nhàn hoặc là quay về nắm lấy vương quyền. Nhưng Phật đã không làm vậy, giáo pháp cứu khổ cần rộng truyền trong nhân loại và 3 cõi. Phật đã phải dùng 49 năm còn lại và đã đi từ đất nước này sang quốc gia khác trên đôi chân trần, xin từng chén cơm thừa của loài người để truyền trao giáo lý, kinh điển. Đã hơn 2500 năm, giáo lý kinh điển vẫn còn nhưng nhân loại đã không còn nhận ra chân giá trị con đường của Đức Phật đã đi. Kinh Phật chỉ còn là nguồn tri thức cổ xưa quý báu và mất dần giá trị thực tiễn. Tôi có cơ duyên nhờ những lời Phật thuyết mà hiểu rõ tường tận chính mình và cũng vì bi nguyện của Phật mà tôi sẽ đốt lại ngọn đuốc chánh pháp. Tôi sẽ viết bộ sách gồm 5 quyển để hiển bày lại con đường giác ngộ hoàn toàn. Nếu bộ sách ra đời mà nhân loại vẫn không tìm về chánh pháp. Điều này thể hiện lòng người đã loạn, xem ra trái đất sẽ sớm quay lại về nơi bắt đầu. Và nếu một ai đó nhận thấy bộ sách trên có chút ít giá trị thì hãy sống thật với chút ít giá trị còn lại đó. Hãy tìm sự giải thoát hoàn toàn cho chính mình ngay trong hiện đời. Hãy cố thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn luân hồi trước khi chúng sinh trong 3 cõi góp nhặt lại hình hài từ cát bụi, ánh sáng, cơn gió, hơi nước,… không gian và thời gian.

Tâm là gì?

23:24 |
            III. Tâm Là Gì?
“Tu tại tâm” mà không rõ biết “Tâm là gì?” thì có khác nào người bị mù mà lại khẳng định “Tôi sẽ đi tìm và hái lấy vài ngôi sao trên trời”.
Đã không nhận biết được “Tâm ở đâu?” thì làm sao rõ biết “Tâm là gì?”. Những câu hỏi dường như đơn giản mà nhân loại mê mờ không thể cho những câu trả lời thỏa đáng. Đó cũng chính là đầu mối dẫn đến sự rối ren của xã hội loài người, sự bất ổn trong nội tâm con người trong cuộc sống hiện đại về vật chất nhưng lại thiếu đi sự hiểu biết về nguyên nhân có được sự tồn tại của loài người và muôn vật trong vũ trụ.
Tâm có hình trạng gì? Có màu sắc gì? Là xanh đỏ hay tím vàng? Là nhỏ bé hay to lớn? Là tròn đầy hay rỗng không? Tâm có chứa đựng vật gì hay không có vật gì? Làm cách nào để nhận biết được tâm?
Tất cả những câu hỏi gợi ý trên có giúp bạn nhận ra hay suy lường được “Tâm là gì?” hay không? Quả thật con người không dễ nhận biết tâm mặc dù họ cảm nhận “Tâm rất gần gũi”, “Không một ai có thể tách rời tâm mà tồn tại”.
Trở lại cuộc tranh luận của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm:
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng con người không phải chết là hết. Tùy theo sự hiểu biết của các vị giáo chủ mà những tôn giáo khác nhau có những giả thuyết khác nhau về “Điểm đến” của con người sau khi chết. Một số tôn giáo cho rằng con người sống lương thiện sẽ lên thiên đàng ở mãi mãi trên đó. Người có lối sống xấu xa, gian ác, ích kỷ,… thì sẽ vĩnh viễn xuống địa ngục chịu đựng sự hành hạ, giày vò,… Số tôn giáo khác tin rằng con người chết rồi sẽ luân hồi trở lại, làm người ở kiếp sau. Loài vật như chó mèo, gà vịt,… chết rồi sẽ lại luân chuyển trở lại hình dạng chủng loài mà chúng đã hiện diện trước đó,…
Nếu những giả thuyết trên là chuẩn xác thì con người đâu cần phải cầu nguyện, cúng bái mà làm gì? Một khi con người vấp phải sai lầm, làm chuyện xấu ác thì vĩnh viễn chịu đọa đày ở địa ngục. Đấng quyền năng tạo ra con người và muôn loài sẽ dõi mắt xem con người chịu đựng sự hành hạ trong địa ngục với tâm trạng ra sao? Vui hay buồn? Ý nghĩa của việc tạo ra loài người và muôn loài sao lại tầm thường đến vậy. Còn nếu con người và mọi loài chết rồi lại quay trở lại mang hình hài của kiếp trước. Vậy tại sao con người phải chết đi? Chết hay không chết có gì khác biệt? Riêng giả thuyết về “Điểm đến” cho mọi chúng sinh sau khi chết của đạo Phật là luân chuyển trong 3 cõi 6 đường tùy theo việc làm tội phước mà tự mỗi chúng sinh có sự thọ lãnh nghiệp quả khác nhau và có một con đường giải thoát hoàn toàn, thoát khỏi luân hồi.
Ngay thời Phật tại thế, Ấn Độ đã có rất nhiều tôn giáo. Điều này thể hiện rõ việc con người tin rằng: Con người không phải chết là hết. Mặc dù vậy giáo lý, kinh điển các tôn giáo lại chứa đựng ít nhiều sự khiếm khuyết dẫn đến những cuộc tranh luận giữa các tôn giáo khiến cho lòng người rối ren không biết tin vào chủ thuyết của tôn giáo nào. Việc phần lớn tôn giáo cho rằng Đấng quyền năng đã tạo ra con người, trói buộc con người tin vào số phận; Việc cầu nguyện, cúng bái bị lợi dụng,… Phật thành đạo, nhìn rõ vạn pháp, thấu rõ nỗi khổ đau trong nhân loại - Con người muốn được giải thoát khỏi bể khổ, khỏi sự luân hồi, khỏi địa ngục tối tăm,… Phật đã nhập thế thuyết pháp giúp muôn người thoát khổ, được về Niết bàn.
Lúc bấy giờ, Ấn Độ cũng có vài chủ thuyết cho rằng con người chết là hết. Nếu chết là hết thì cần gì phải sống thiện lương? Cần gì phải học hỏi sự hiểu biết? Cần gì phải xây dựng phát triển xã hội loài người? Vì lẽ dù là người thông minh, tài giỏi hay ngu ngốc, hạ tiện, xấu xa,… thì chết là hết. Với sự hiểu biết con người dễ dàng nhận ra: Những con người sống nhẫn nhịn, hiền lành thường bị những người tham lam, gian xảo,… giành giật lấy những phần hơn về vật chất và quyền lợi. Khi mà những người thuộc giai cấp lãnh đạo rõ biết “Chết là hết” thì họ cần gì phải bảo vệ quyền lợi những người khốn khó, họ tiếp tay với những thành phần cơ hội, xấu ác nhằm thu đoạt của cải, tài sản nhằm có được cuộc sống sung túc, giàu sang. Trách nhiệm, lương tâm, danh tiếng - Chết đều không thể mang theo. Khi ý thức, nhận thức loài người dựa trên nền tảng “Chết là hết” thì phải chăng lòng tham và sự hiểu biết vượt trội sẽ biến loài người thành chủng loài sinh vật hiểm độc, hung ác bậc nhất? Xã hội loài người sẽ là nơi chứa đựng đầy máu, nước mắt và sự khổ đau, thù hận sẽ huỷ hoại loài người cùng trái đất. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân Phật đã phải rời bỏ lối sống tĩnh lặng, tự do và đi rộng truyền chánh pháp.
Nhưng nếu thật chết là hết thì con người và muôn loài sao phải sinh ra rồi chết đi? Ai đã tạo ra việc làm vô nghĩa đó? Có chủ thuyết tự nhiên sinh cho rằng con người và vạn vật do tự nhiên sinh. Nếu chấp chặt vào thuyết tự nhiên sinh thì từ thuở đất trời còn sơ khai tự nhiên đã có loài người và muôn vật. Tự nhiên là cái gì mà lại có thể làm được điều không tưởng đó. Và nếu thật là tự nhiên sinh thì con người và mọi loài ngày nay tại sao phải cần  có cha mẹ mới nhào nặn nên hình hài. Lẽ ra con người ngày nay phải tự nhiên có mặt như là người xưa đã từng tự nhiên có mặt,...
Tóm lại, tất cả những chủ thuyết dựa vào bằng tư duy, lý luận,… của các vị giáo chủ đương thời đều vướng vào nhận thức, tư duy chủ quan, lầm lạc, phiến diện,... Vì thế tri thức con người không tìm ra được nguyên nhân hình thành loài người cùng muôn vật và cũng không tìm ra được “Điểm đến” của con người cùng muôn loài sau khi chết. Con người một khi bị trói vào những kiến chấp, những chủ thuyết sai lạc thì không ngừng tranh luận, công kích lẫn nhau. Kết quả của những cuộc tranh luận đó là không đi đến đâu, không giải quyết được vấn đề về nguồn gốc con người. Phật Thích Ca đã ví những cuộc tranh luận của các chủ thuyết trên như là hình ảnh con kiến bò quanh miệng một cái bát. Con kiến bò mãi, bò mãi,… dù trải qua hàng vạn kiếp thì cũng chỉ là quanh quẩn ở miệng cái bát mà thôi. Do vướng vào những hiểu biết sai lạc con người sẽ luân hồi trong 3 cõi cũng giống như là con kiến bò quanh miệng bát.
Chủ nghĩa duy vật cũng cho rằng con người chết là hết. Qua giáo lý kinh điển, những người theo chủ nghĩa duy vật nhận ra các tôn giáo cho rằng con người chết ở nơi này sẽ đi thọ sinh ở nơi khác. Điều này thể hiện có sự đến và đi, đồng nghĩa với việc có “Cái gì” để đến và đi. Dựa vào khoa học, chủ nghĩa duy vật đã tiến hành hàng loạt những cuộc nghiên cứu tìm hiểu nhằm chứng minh con người chết sẽ không còn gì, không có sự luân hồi, không thiên đàng, địa ngục,… Kết quả những nhà khoa học đã thu được qua các máy quay, các máy kiểm tra hiện đại là không có “Cái gì” cho thấy có sự đi ra hay đi vào ở cơ thể con người ngay thời điểm con người chết. Từ đó tri thức nhân loại khẳng định: Chết là hết. Mục đích của chủ nghĩa duy vật nhằm khẳng định thế giới tâm linh là sự sai lầm của tri thức con người, là sự mê tín cần phải xóa bỏ.
Không chỉ có những người theo chủ thuyết duy vật vướng vào việc dò tìm “Cái gì” sẽ đi ra khỏi cơ thể người chết mà ngay cả những người tin vào sự hiện diện của thế giới tâm linh cũng rơi vào tà kiến đó. Mỗi khi có người trút hơi thở sau cùng họ cố tìm xem hơi ấm cơ thể người chết dịch chuyển theo hướng nào. Cụ thể là từ chân lên đầu hay từ đầu xuống chân. Cuối cùng họ sẽ cố cảm nhận xem “Cái gì” thoát ra khỏi cơ thể ở vị trí nào nhằm ước đoán cõi giới mà người chết phải thọ lãnh. Đây là việc làm “Lừa người dối mình”. Vì thực tế sẽ không có “Cái gì” đi ra hay đi vào cơ thể người chết cả.
Do dựa trên góc nhìn, tư duy hạn hẹp, phiến diện,… tri thức nhân loại đã phạm sai lầm cơ bản và ngớ ngẩn - Bị ngôn ngữ đánh lừa.
Tại sao tôi nói "Tri thức nhân loại bị ngôn ngữ đánh lừa?”
Thật vậy tri thức nhân loại đang bị trói vào ngôn ngữ. Khi nhân loại nói có thì phải là có “Cái gì”? Khi nói không thì sẽ là không có “Cái gì”? Vì thế khi nói có đến có đi thì phải có “Cái gì” đến đi. Nếu không nhận biết, nhìn thấy “Cái gì” thì sẽ không có sự đến đi. Việc này đồng nghĩa với việc “Cái gì” đó phải có thể nhìn thấy, tiếp xúc, nhận biết được,… Đây là sự ngớ ngẩn do tâm trí, nhận thức u mê gây ra và con người đã tự trói buộc vào tri thức lầm lạc đó. Chính vì sự lầm lạc mà con người có quan niệm chỉ tin vào những gì mắt có thể thấy, tai có thể nghe, miệng có thể nếm, mũi có thể ngửi, tay có thể chạm đến,… và những gì nằm ngoài những quan niệm trên thì sẽ không tồn tại.
Nhưng thật sự không phải vậy. Bởi vì khoa học vẫn thường nói về không gian, chân không, hư không, không khí,… Trong không gian, chân không, không khí có “Cái gì”? “Cái gì” đó có thể nhìn thấy được, nắm bắt,… được không? Nếu không thể nhận biết, chỉ rõ thì phải chăng “Cái gì” đó không có. Nếu đã không có “Cái gì” sao lại có tên gọi là chân không, không khí, hư không, không gian,… Nếu thật không có không khí, không gian thì có sự sống, có tồn tại mọi sự vật, đất nước, núi sông không? Chủ nghĩa duy vật và khoa học nên chăng xét lại góc nhìn của tri thức nhân loại ở thời điểm hiện tại?
Hơn nữa, sự khác biệt nào giữa người sống và xác chết? Xác chết thì nằm im, bất động và hư hoại. Còn người sống thì có thể đi đứng, nằm ngồi, thấy nghe và hay biết. Con người khi ở trạng thái thiền định - dừng lặng cái thấy nghe hay biết thì có khác với cái xác chết không? “Cái gì” đã tạo nên sự khác biệt đó. “Cái gì” đó -  nhân loại có thể nhận biết, cầm nắm, nếm ngửi,… không?
Vấn đề có phần hơi sáng rõ - Ngay cả thời điểm con người còn sống mà nhân loại vẫn không thể nhận biết “Cái gì” đó có hình dạng, màu sắc ra sao? Đến khi con người thành xác chết thì làm sao có thể nhận biết được “Cái gì” đó có đến, có đi hay không được? Dựa vào cơ sở không nhìn thấy “Cái gì” để khẳng định - Chết là hết - có còn hợp lý nữa không?
Tâm là gì?
Sẽ không ít người cho rằng cái thấy nghe hay biết, vui buồn,… chính là tâm. Vậy khi dừng lặng không suy nghĩ, hoặc là khi ngủ thì con người sẽ “Đánh mất” tâm - như là xác chết? Khi thức dậy, suy nghĩ thì tâm sẽ hiện diện - con người sống lại. Sự việc lại trở nên điên đảo vì lẽ con người lúc thì sống, lúc thì chết rất khó phân biệt.
Chính việc lầm lạc nhận định cái thấy nghe hay biết, sự vui buồn, hơi thở,… làm tâm mà Phật Thích Ca đã khẳng định: Chúng sinh trong 3 cõi 6 đường u mê, điên đảo “Nhận giặc làm con”. Từ đó mê loạn trôi lăn trong luân hồi sinh tử, không biết được ngày ra.
Hẳn là bất kỳ ai trong nhân loại đều có những giây phút dừng lặng không nghĩ suy hơn thua, được mất, không cảm giác vui buồn, yêu ghét,… Một trạng thái tĩnh tại, lặng yên. Từ trạng thái tĩnh lặng đó, mắt thấy cảnh đẹp, người đẹp sinh lòng ưa thích rồi tham đắm mong muốn được gần gũi chiếm làm vật sở hữu, dùng những toan tính, những thủ đoạn,… để giành về. Nếu việc thành công thì vui sướng, mừng rỡ,… còn việc không thành thì lo lắng, sầu khổ,… Ngược lại, cũng từ trạng thái tĩnh lặng đó con người gặp những cảnh trái ý nghịch lòng rồi dính mắc, chất chứa muộn phiền, oán thù, ganh ghét, tị hiềm,… Sự tham đắm, si mê, sân hận,… sẽ não hại con người. Với tinh thần, tâm trí lầm lạc con người sẽ lại dễ dàng làm những việc sai trái - Những việc làm thiếu sự tỉnh táo, sáng suốt,… sẽ gây thêm khổ đau cho họ và mọi người xung quanh.
Có một thực tế, cảm giác của con người là không thật. Khi con người vui sướng cùng cực thì cũng chính là lúc cảm giác vui đó giảm và mất dần. Cũng lại như vậy khi cảm giác buồn bã, tuyệt vọng đạt mức cao nhất thì cũng chính là lúc những đau đớn trên chuyển sang một trạng thái cảm giác khác. Đó chính là tính chất vô thường của cảm giác. Dù cho con người thường sống trong sự vui buồn, yêu ghét, tranh giành hơn thua,… thì cũng có lúc cảm giác dừng lặng, không nghĩ suy toan tính,… sẽ làm chủ tâm trí của con người. Chỉ cần khách quan tư duy, lắng lòng suy nghĩ con người sẽ nhận ra trạng thái dừng lặng mới chính thật sự là “Ông chủ” của ngôi nhà thân xác.
Từ một “Ông chủ” tự tại, lặng yên con người đã để tâm dính mắc vào cảnh rồi tham đắm, si mê chất chứa muộn phiền, đau khổ. Cụ thể, mắt thấy hình, tai nghe tiếng, mũi nhận biết mùi hương, miệng nếm món ăn, tay chân và thân thể cầm nắm, xúc chạm,… rồi sinh lòng ưa ghét dẫn đến hàng loạt cảm giác không thật xâm chiếm lấy tâm trí như vui buồn, hờn giận, ghét thương,… đánh mất dần sự an lạc, tự tại, tĩnh lặng. Nhưng các sự vật cũng không thật, cũng vô thường. Ví như con người thường rất yêu thích mùa xuân vì xuân về có trăm hoa đua nở, khí trời dịu mát, lễ hội vui chơi,... Nhưng mùa xuân không thường tại, xuân sẽ qua đi nhường lại cho những cơn mưa “Như trút nước” của mùa hè. Đôi khi, con người buồn, tiếc nuối,… khi mùa xuân qua đi và thầm nhủ “Sẽ đợi chờ mùa xuân sau”. Thời trai trẻ, con người thường ngắm mình qua chiếc kính, lặng lẽ tự hào “Gương mặt ta ưa nhìn, thân hình ta đẹp và cân đối, giọng nói thì êm dịu, ngọt ngào,…” nhưng ngày tháng cứ trôi, ta nhận ra - Ta không còn trẻ đẹp, không còn khỏe mạnh, rắn rỏi. Ta cố gắng níu giữ lại những gì son trẻ bằng đủ mọi hình thức như rèn luyện thể thao, phẫu thuật, dùng mỹ phẩm,… Cho dù con người rất cố gắng níu giữ tuổi trẻ, sức khỏe,… nhưng con người sẽ già đi. Do không chấp nhận thực tại thường đổi thay con người đã sống trong khổ đau, nuối tiếc,… Tri thức nhân loại đang huyễn hoặc, lừa dối lại chính con người. Tâm phân biệt nhốt con người vào xác thân không thật, luôn biến chuyển và sẽ tàn hoại. Con người đang sống trong cảnh không thật, si mê tham đắm tạo ra những cảm giác không thật rồi vui buồn chất chứa nhưng chúng cũng không thật. Vậy mà con người đang vì những thứ không thật đó đã gây khổ não cho loài người và muôn vật. Sống trong tham đắm si mê, sân hận, hoài nghi và kiêu mạn, tạo ra oan trái, oán hờn ở gia đình cũng như ngoài xã hội. Chiến tranh, hận thù, khổ đau được nuôi lớn và trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra mối họa lớn - Đe dọa sự tồn tại của trái đất.
Qua những điều tôi trình bày, mọi thứ đều có vẻ không thật. Nhưng nếu mọi thứ đều không thật thì con người cần gì phải giữ lấy trái đất? Cần gì phải sống với trái tim “Biết yêu người”? Cứ hãy sống với quan điểm “Chết là hết”, cứ giành giật những phần hơn về mình. Con người hãy cứ sống thụ hưởng sự xa hoa, rượu ngon, gái đẹp, người tình,… bất chấp mọi luân thường đạo lý,... Vì mọi thứ đều không thật. Nhưng có một sự thật - Bạn chưa từng sống thật với những điều không thật đó. Bạn chỉ nhận biết mọi thứ không thật qua những câu từ tôi trình bày trong sách, trong Tam tạng kinh của Đức Thế Tôn. Những điều tôi trình bày chỉ là phương tiện tôi dùng nhằm giúp bạn nhận biết sự thật. Sự thật là bạn có bản tâm tĩnh lặng, tự tại, không tham đắm, si mê,… Vì chưa sống thật với bản tâm vắng lặng nên bạn sẽ còn tham đắm, sân hận, si mê, kiêu mạn và hoài nghi. Thế nên bạn còn bị những vui buồn, được mất,… trói buộc. Thực tế, khi sống với tâm phân biệt, dính mắc mọi thứ đối với bạn là thật. Khổ đau, muộn phiền, lo toan,… đều là thật. Vì thế những gì bạn tạo tác gây ra dù là thiện hay ác cũng đều được lưu giữ trong tâm phân biệt, tạo thành nghiệp đi theo bạn “Như bóng theo hình” suốt cả cuộc đời bạn và hằng sa số kiếp khác của chính bạn. Nghiệp lực có bản chất giống như là ký ức của con người. Trong cuộc đời của mỗi con người có rất nhiều việc con người ngỡ quên rồi nhưng thật sự là không quên hẳn. Rồi có lúc con người sẽ nhớ lại những việc dường như đã quên đó. Phải chăng có những việc bạn làm ở thời thơ trẻ, bạn nghĩ đã quên rồi nhưng đôi lúc bạn chợt nhớ lại cùng với những cung bậc cảm giác khác nhau? Nghiệp lực theo bạn cũng giống như vậy, đủ duyên thì sẽ hiển hiện. Chỉ khi bạn thật sống với tâm không phân biệt thì bạn mới thật sự rõ biết mọi thứ đều không thật. Bạn sống với sự thật đó thì sẽ không còn gì có thể não hại bạn, bạn thoát khỏi sự trói buộc hơn thua, được mất,… Nếu bạn hành trì miên mật, thuần thục thì cánh cửa giải thoát hoàn toàn bạn đã tự mở lấy.
Vấn đề còn lại là bạn có muốn bước qua cánh cửa đó hay không? Tại sao lại có sự do dự này?
Bởi vì bạn đã khởi tâm từ bi, nguyện làm bồ tát cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi.
Tóm lại, con người hiện đang sống với hai tâm khác nhau: Tâm phân biệt - Vọng tâm và tâm không phân biệt - Còn gọi là tâm, chân tâm, bản tâm. Gần như toàn bộ nhân loại từ trước đến nay phần lớn thời gian đều sống với tâm phân biệt dính mắc. Chỉ có Phật Thích Ca và những vị đệ tử Phật đạt quả vị giải thoát hoàn toàn là sống với tâm không phân biệt, dính mắc. Vì thế cái nhìn của họ mới có sự thông suốt, sáng rõ, thấu hiểu 3 cõi, 3 thời - Quá khứ, hiện tại, vị lai. Trên thực tế con người chưa bao giờ đánh mất bản tâm. Chỉ vì mãi theo cảnh nên nhận cái thấy nghe hay biết dính mắc làm tâm. Nào hay đó chỉ là những vọng tâm điên đảo khiến con người chìm đắm trong 6 nẻo. Sau khi rong ruổi chạy theo cảnh chán chê, con người sẽ dừng lại - Chân tâm hiện diện. Nhưng sau đó con người lại tiếp tục đuổi theo cảnh - Vọng tâm lại làm chủ. Sự lầm lạc của cảm giác kéo theo sự sai lầm của tri giác, ý thức, nhận thức,… của con người. Từ đó con người nhận lấy vọng tâm làm chủ quên mất “Ông chủ thật sự là chân tâm”.
Sự lầm lạc này được đệ tử lớn của Phật - Ông Kiều Trần Như đã ví vọng tâm như là một người khách ở trọ. Người khách sẽ đến nhà trọ nghỉ lại, nhà trọ chính là ngôi nhà xác thân. Sau khi ăn uống, tắm rửa, ngủ nghỉ,… thì người khách sẽ rời đi. Khi người khách đi rồi thì nhà trọ vẫn còn đó và người chủ chính là tâm dừng lặng luôn hiện diện trong ngôi nhà xác thân.
Từ trước thời Phật ra đời con người đã quên mất bản tâm, nhận vọng tâm làm chủ - Nhận giặc làm con, nhận khách quên chủ - Dẫn đến con người rơi vào màn lưới nhân duyên, nghiệp quả chằng chịt của luân hồi trong 3 cõi 6 đường. Do nhận thức được thế giới tâm linh có tồn tại, tri thức cổ xưa của nhân loại đã thừa nhận 8 sự khổ mà con người phải thọ lãnh ở kiếp Người gồm - Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Nhận biết rõ thật - Đời là bể khổ. Con người đã mong muốn thoát ly, xa rời những sự khổ não. Nhưng do tri thức bị giới hạn, con người đã tin nhận sự tồn tại của một Đấng quyền năng. Chính sự tin nhận lầm lạc này mà con người không thể thoát ra mọi khổ não, sống lệ thuộc vào cầu nguyện, lễ lạy. Dẫu rằng có đức tin mãnh liệt, niềm tin sâu sắc thì con người vẫn không thể thoát khổ và thoát khỏi 3 cõi 6 đường. Vì lẽ cho dù có niềm tin kiên định và tấm lòng thánh thiện, con người sẽ được về cộng trú với Đấng quyền năng nhưng đây chỉ là nẻo Trời trong 3 cõi 6 đường. Do chưa có sự hiểu biết về tánh không của vạn pháp, chưa dứt bỏ được quan niệm sai lầm về cái tôi thường tại của tự thân. Sau một thời gian dài lâu, hằng sa số kiếp tùy phước báo nghiệp quả chúng sinh đó sẽ lại u mê nghĩ nhớ về tiền thân mà rơi lại vòng lẩn quẩn luân hồi. Thế nên bất kỳ ai muốn học Phật, muốn được giải thoát hoàn toàn thì phải dũng mãnh phát chí nguyện lớn - Liễu thoát sinh tử. Còn bằng giải đãi tu hành, đọc kinh, niệm Phật, bố thí, trì giới,… mà không dùng trí tuệ quán chiếu nhận rõ ngón tay và mặt trăng thì sẽ được thọ hưởng phước báo ở nẻo Trời, nẻo Người, nẻo Atula.
Sau thời gian dài thiền định và quán chiếu, Phật nhận rõ tâm, vọng tâm đều có thể hư huyễn - Không hình tượng, không màu sắc, không âm thanh, không thể nắm bắt được,... Vọng tâm thì vô thường, biến chuyển liên tục. Con người vì chạy theo cảnh đánh mất bản tâm đã nhiều đời, nhiều kiếp trôi lăn khổ não. Càng cố vùng vẫy tìm cách thoát ra thì càng bị trói chặt. Trong trạng thái thiền định, Phật nhận ra chân tâm là thường tại vì bởi con người “Nhận giặc làm con” nên chân tâm bị vọng tâm che khuất, dẫn đến lầm lạc, mê mờ. Phật tiếp tục quán chiếu từ chiếc lá, giọt mưa rơi, làn khói tỏa, đám mây bay, con cò trắng,… và cả xác thân người. Người nhận ra chúng chỉ là do duyên hợp. Trong chiếc lá, đám mây, hạt cát,… đều có chút đất, chút nước, chút gió, chút lửa chỉ thiếu một trong bốn thành phần trên thì sẽ không có chiếc lá, đám mây, hạt cát,… và tự thân mọi vật luôn  biến chuyển không ngừng. Cả đất nước gió lửa cũng không thường tại. Cũng chỉ từ đất nước gió lửa mà tạo ra tất cả mọi thứ có trong vũ trụ, muôn hình, muôn dạng. Đây chính là chân tánh của vạn pháp - Chân không diệu hữu. Phật tiếp tục quán chiếu “Cái gì” đã tạo ra vạn vật. Phật lại nhận biết vạn vật sở dĩ được nhận biết, phân loại là do nhận thức, ý thức,… của con người. Nhưng cái nhận thức, ý thức đó lại không phải là “Cái gì” có thể cầm nắm, nhận biết, không hình dạng, màu sắc,… Vì lẽ đó tôi tạm gọi “Cái gì” đó là “Cái không”. Phật lại nhận ra điều mầu nhiệm khác - Tất cả mọi sự vật, hiện tượng dù là to lớn hay nhỏ bé đều nhờ “Cái không” mà có. Không có bất kỳ cái gì tồn tại mà không có “Cái không”. Thật tế, vũ trụ rộng lớn tồn tại nhờ “Cái không” cho đến hạt cát, nguyên tử, electron, nơtron,… cũng do “Cái không” mà hiện hữu. Xác chết và người sống cũng do “Cái không” mà có sự khác biệt. Do nhận biết tánh không của vạn pháp, Phật không còn dính mắc vào vạn pháp nên không còn khổ não. Phật nhận ra Người đã từng phiền não vì vạn pháp vô thường, vô ngã, là khổ, là không mà Người cho là thường, ngã, lạc, tịnh. Do thiếu hiểu biết, u mê dính mắc nên Người đã có sự khổ. Đến khi hiểu biết tự tánh vạn pháp, Người không còn tâm phân biệt nữa thì thoát ra ngoài mọi khổ não. Cái gì đã tạo ra sự khác biệt đó? Đó chính là bản tâm dừng lặng, không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm, không phân biệt dính mắc. Lúc bấy giờ tâm Phật đã hòa vào không đại. Bản tâm Phật và không đại là không hai, là thường tại. Phật đã trở thành người giác ngộ, giải thoát hoàn toàn - Liễu thoát sinh tử. Phật đã tận hưởng niềm hỷ lạc do thiền định quán chiếu mang lại.
Tôi đã có cơ may nếm trải niềm hỷ lạc sau khi đạt được đóa vô ưu. Không hẳn là niềm hỷ lạc của tôi giống với niềm hỷ lạc của Phật nhưng về bản chất thì là như nhau - Niềm hỷ lạc không chứa đựng sự hơn thua, được mất,... Vào buổi thiền định đêm 27/12/2010, tôi đang quán chiếu làm cách nào để hòa tan tâm vào không đại, xác thân vào tứ đại. Tôi đã thực hiện việc này rất nhiều lần mà chưa đạt được kết quả. Tôi chỉ nhận biết những khi dùng đồ ăn, thức uống, hít thở,… là tôi đang tiếp nhận chút đất nước gió lửa từ bên ngoài, rồi tôi sẽ thải ra chút đất nước gió lửa trả lại cho tứ đại. Tôi thật không thường tại. Nhưng tôi chưa thật sự sống với sự thật không thường tại nên tôi còn có những lo toan, phiền muộn,… Sự thôi thúc vượt qua mọi khổ não kiếp Người đang chiếm lĩnh tâm trí tôi. Tôi dừng lặng hơi thở, quên thực tại cho đến lúc người nóng bừng. Tôi thở vội một hơn thật sâu chợt nhận ra thân tâm chấn động - Tôi chưa bao giờ là thường tại - Thân thể tôi biến chuyển liên tục từ lúc vừa mới sinh ra, cả trước lúc tôi sinh ra, xác thân tôi là đất nước gió lửa. Khi dừng lặng bản tâm là không đại và ngay cả khi không dừng lặng thì tâm vẫn là không đại. Tôi là vạn vật hay vạn vật là tôi? Tôi tiếp tục công trình quán chiếu đám mây bay, chiếc lá khô vàng, xác thân Phật,… Chỉ là chút đất, chút nước, chút gió, chút lửa. Tôi nhìn rõ tiền kiếp, hiện kiếp, hậu kiếp của tôi và muôn loài. Tôi nhận biết - Tôi đã mở được cánh cửa giải thoát hoàn toàn. Niềm hỷ lạc mà tôi nhận được - Tôi là tia nắng sớm, hòn đất, viên sỏi, cây táo, quả hồng,… Tôi lại nhìn thấy con khỉ đã ăn quả hồng, tôi luân chuyển làm con khỉ và … tôi nhìn thấy gương mặt tôi có trong quả hồng, đám mây trắng, trên thân cây và con khỉ,… Niềm hỷ lạc này phải chăng không chứa đựng sự  được mất, hơn thua và tham đắm?
Tôi thấu rõ vạn pháp, thấu rõ con đường của bậc giác ngộ - Đức Phật Thích Ca đã đi. Có một sự thật là khi đạt được sự giác ngộ cao tột Phật hoàn toàn có thể quay về với gia đình, về làm một vì vua tốt của vương quốc Thích Ca. Người sẽ trị nước bằng con đường đức trị với sự hiểu biết  về tình yêu thương chân thật và bản tâm vắng lặng, không dính mắc. Nhưng Phật lại nhận biết loài người và chúng sinh 3 cõi đều đang rất khổ não, họ đang rất cần một người có sự hiểu biết tột cùng chỉ dẫn cho họ con đường giải thoát hoàn toàn, thoát ra mọi khổ não. Vì thế giáo pháp mầu nhiệm về con đường giác ngộ, thoát khỏi luân hồi cần được truyền sâu rộng vào trong xã hội loài người. Bởi lẽ con người là chúng sinh duy nhất có đủ sự thông minh và làm chủ được những hành vi tạo tác của chính mình. Muốn cứu khổ chúng sinh 3 cõi 6 đường thì phải lấy nẻo Người làm nền tảng. Phật nhận biết Người đã không còn thuộc về một đất nước, một gia đình đơn lẻ; Gia đình của Người là nhân loại và chúng sinh trong 6 đường. Phật đặt chân vào con đường hành đạo và hoằng pháp.
Phần lớn loài người thời Phật không có nhiều sự hiểu biết sâu sắc - Họ như là những đứa trẻ. Vì thế con người có ít sự hoài nghi, khi được chỉ bày chánh pháp - Con đường thoát khổ, thoát khỏi luân hồi. Đệ tử Phật - Cả người xuất gia và cư sĩ tại gia - đã tin sâu, tinh tấn hành trì đắc quả vị giác ngộ, giải thoát hoàn toàn với số lượng lớn. Những người học Phật đã tinh tấn hành trì “Cái gì” để đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn? Họ học cách buông bỏ. Buông bỏ tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Họ dựa vào “Cái gì” để buông bỏ tâm phân biệt, dính mắc? Họ dựa vào giáo lý kinh điển, dựa vào việc hành trì miên mật tùy thuận bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ để đạt sự hiểu biết về cái tôi, vạn pháp, vọng tâm không thật.
Buông bỏ những cái không thật thì họ đạt được bản tâm tĩnh lặng chân thật. Buông bỏ luôn cả bản tâm chân thật, cái tôi nhỏ bé trong tấm thân máu thịt của họ hòa vào không đại. Đệ tử Phật thành Phật, Bồ tát, A la hán thoát khỏi luân hồi.
Sự hiểu biết cao tột của Đức Phật đã giúp cho chúng sinh trong 6 nẻo thoát dần ra mọi khổ đau, được giải thoát. Giáo lý kinh điển Phật nhờ vậy mà được rộng truyền khắp nhân loại. Chỉ đáng tiếc tri thức nhân loại ngày một nâng cao, tâm phân biệt hoài nghi,… đã khiến con người đã từ lâu không còn tin vào con đường giác ngộ của Đức Thế Tôn. Kinh Phật chỉ còn là nguồn tri thức quý báu của người xưa nhằm khuyên con người sống hướng thiện, làm lành, lánh dữ  và ngày càng mai một trong lối sống thực dụng, bon chen, ích kỷ.
Viên ngọc quý thứ ba của Tam bảo - Tăng bảo đã không còn sáng rõ, không còn sống được với giáo pháp của Đức Phật. Sự lầm lạc, ngộ nhận của Tăng bảo đã chia chẻ đạo Phật ra thành nhiều mảnh vụn chấp vá. Giáo lý kinh điển được mang ra phiếm đàm, hý luận, “Lấy ngọn bỏ gốc”,... Càng về sau, càng lầm lạc. Không ít vị Tăng bảo rơi vào lợi dưỡng, lợi danh, phép thuật, bùa chú, cầu nguyện, cúng bái,… Số khác nuôi lớn bản ngã - Khinh sư, diệt Phật;... Sự không thực chứng ngộ bản tâm của giới Tăng bảo đã dẫn đến việc tách rời đạo Phật ra khỏi đời, khỏi xã hội loài người. Đánh mất đi giá trị ứng dụng thực tiễn của giáo lý đạo giác ngộ. Điểm qua các viên ngọc quý trong Tăng bảo hiện nay, tôi nhận biết có một vài vị đạt được những sự tỏ ngộ đáng ghi nhận. Tôi cũng nhờ tham khảo giáo lý của các vị này mà đạt được đóa vô ưu nhưng các vị minh sư trên đã vướng vào rào cản Tăng bảo. Thế nên họ không đủ sức hợp nhất đời đạo. Tri thức nhân loại đã tách rời đạo Phật ra khỏi đời. Đạo Phật chỉ còn là một tôn giáo thuần túy. Tri thức nhân loại đã không thể nhận biết giáo lý kinh điển của Phật là ngón tay chỉ mặt trăng. Do không nhận biết ngón tay, tri thức nhân loại đã quên bỏ cả mặt trăng.
Có lẽ đã có không ít người nhận ra - Tâm là gì? Và cũng có không ít người còn mơ hồ chưa thật rõ. Tôi sẽ tóm lược lại vấn đề.
Nhằm giúp con người nhận biết tâm, Phật đã chia tâm ra thành vọng tâm và tâm. Vọng tâm là tâm phân biệt, dính mắc khi mắt thấy cảnh, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi hương, miệng nếm vị, tay chân cơ thể xúc chạm đem tâm phân biệt dính mắc rồi sinh yêu ghét, chất chứa,… quên mất sự tĩnh lặng của tâm rồi buồn khổ, sầu não. Do con người dính mắc, không buông bỏ tạo thành nghiệp lực khiến con người thành một dạng chúng sinh chìm nổi trong 6 đường.
Cũng như vọng tâm, tâm cũng gồm những cái thấy nghe hay biết nhưng là cái thấy nghe hay biết không dính mắc, là sự buông bỏ - Đối cảnh vô tâm. Khi sống với tâm không dính mắc thì con người không còn tham đắm, u mê,… không còn bị đau khổ hơn thua, được mất não hại. Khi sống với chánh định thì con người sẽ được giải thoát hoàn toàn.
Tôi sẽ đưa ra ví dụ cho bạn rõ biết sự khác biệt của cái thấy giữa tâm và vọng tâm. Bạn hãy nhìn một đám mây trắng bay trên bầu trời.
Tôi sẽ hỏi: Bạn thấy gì?
Bạn trả lời: Thấy mây trắng bay.
Một lúc sau, tôi lại hỏi: Bạn thấy gì?
Bạn trả lời: Thấy mây trắng bay về cuối trời.
Đợi thêm một lúc, tôi lại hỏi: Bạn thấy gì?
Bạn trả lời: Mất rồi.
Tôi hỏi: Mây trắng mất hay cái thấy của bạn mất?
Bạn trả lời: Hiển nhiên là mây trắng mất, cái thấy thì vẫn còn.
Tôi nói: Bạn nói đúng. Cái thấy bạn vẫn còn. Vậy tại sao tôi hỏi bạn thấy gì, bạn lại nói là mất rồi. Do dính mắc nên bạn đã lầm lạc nhận cảnh làm cái thấy. Bạn quên mất cái thấy thường còn. Lẽ ra bạn phải trả lời: Thấy mây trắng không còn.
Tôi lại hỏi: Bạn đã nhìn thấy cánh đồng lúa khi nào?
Bạn trả lời: Khi tôi còn là một đứa trẻ.
Tôi nói: Bây giờ bạn hãy nhìn lại cánh đồng lúa. Bạn hãy nhớ lại cái thấy khi bạn là một đứa trẻ và cái thấy bây giờ là khác nhau hay giống nhau?
Bạn trả lời: Là giống nhau.
Tôi lại nói: Thật vậy. Cảnh vật thì có đổi thay, thời gian không dừng lại nhưng cái thấy nghe hay biết của mỗi con người là luôn hiện hữu, là không đổi thay. Nhưng do sự mê lầm, dính mắc mà con người quên mất cái thường tại, đuổi theo sự sinh diệt mà có sinh có diệt. Con đường của việc học Phật là hành trì đi tìm lại sự tỉnh thức, dứt vọng về chân. Bạn sẽ rõ biết - Bạn chưa từng sinh ra, liễu thoát sinh tử.
Điều căn bản của người học Phật là xác định sáng rõ - Tâm là gì? Tâm ở đâu? Người học Phật mà rong ruổi theo vọng tâm sinh diệt thì sẽ là chúng sinh trong 3 cõi. Người học Phật bỏ vọng về chân, sống với bản tâm tĩnh lặng, không dính mắc thì sẽ mau chóng đạt được chánh định, đạt được một trong bốn quả vị Thánh. Buông bỏ cả bản tâm tĩnh lặng thì người học Phật sẽ giải thoát hoàn toàn, chấm dứt sự sinh diệt.

Tâm ở đâu?

21:16 |
            II.      Tâm Ở Đâu?
Nhân loại đang nhốt tâm trong tấm thân máu thịt luôn luôn biến chuyển và tàn hoại nên phần lớn câu trả lời sẽ là: “Tâm ở trong thân”.
Tôi sẽ mượn câu trả lời của Phật trong kinh Thủ lăng nghiêm mà trả lời: Ví như một người đang ở trong nhà thì người đó sẽ nhìn thấy những đồ vật trong nhà rồi mới nhìn thấy những món đồ ở ngoài nhà thông qua những cánh cửa. Như vậy, nếu tâm thật sự ở trong thân thì lẽ ra tâm phải thấy được tim gan, máu thịt, con mắt,… trước khi nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Nhưng thực tế không phải vậy - Rõ thật là không ai nhìn thấy được nội tạng của mình. Vậy tại sao chấp tâm ở trong thân?
Bạn chống chế: Tâm thật ở trong thân nhưng vì trong thân không có ánh sáng nên tâm không nhìn thấy được nội tạng. Tâm nhận biết được mọi vật bên ngoài là vì có ánh sáng.
Tôi nói: Vậy khi đưa ánh sáng vào trong cơ thể, bạn sẽ nhìn thấy được nội tạng của chính mình, có đúng như vậy không?
Bạn nói: Tâm không trong thân, tâm sẽ nằm ngoài thân.
Tôi nói: Nếu tâm thật nằm ngoài thân thì khi có một ai đó vỗ vai bạn thì tâm biết hay thân biết? Nếu là tâm biết thì thân chẳng thể biết vì trong ngoài khác nhau. Như thế thì làm sao bạn biết có người vỗ vai? Nếu là thân biết thì đâu cần có tâm nhận biết bạn vẫn biết có người vỗ vai. Vậy khi tâm ở ngoài thân thì bạn và tâm đâu có can hệ gì; Việc có hay không có tâm nào có quan trọng?
Bạn nói: Tâm không nằm trong thân, không nằm ngoài thân. Có lẽ tâm ở nơi con mắt. Vì ở nơi con mắt nên tâm không nhìn thấy trong thân mà chỉ nhìn thấy ở ngoài thân.
Tôi nói: Thật không có lẽ đó! Vì bởi nếu tâm ở nơi con mắt thì tâm sẽ ở trước, ở giữa hay ở sau con mắt? Nếu ở sau con mắt lẽ ra để nhìn thấy mọi vật trước tiên tâm phải thấy con mắt trước. Ở giữa con mắt thì phải nhìn thấy nửa phần ngoài của con mắt. Còn ở ngay trước con mắt thì tại sao tôi vỗ vai bạn từ phía sau bạn lại biết.
Bạn nói: Vậy ra tâm ở đoạn giữa, không ở trong thân cũng không phải ở ngoài thân.
Tôi nói: Lại không đúng. Vì khi bạn nhìn thấy quả táo thì đồng nghĩa với tâm nhận biết quả táo. Nếu tâm ở đoạn giữa thì tâm sẽ từ đoạn giữa đến mắt hay từ đoạn giữa đến quả táo? Nếu tâm từ đoạn giữa đến mắt hoặc tâm từ đoạn giữa đến quả táo thì bạn đều không thể nhìn thấy quả táo. Chỉ khi tâm đồng thời đi đến mắt và cùng đi đến quả táo thì bạn mới nhìn thấy quả táo. Nếu điều đó xảy ra thì từ một tâm sẽ chia thành hai tâm đi theo hai hướng khác nhau. Đồng nghĩa với việc bạn lúc thì có một tâm, lúc thì lại có hai hay nhiều tâm. Sao kỳ lạ vậy?
Xem đến đây, hẳn là có không ít người rối trí. Bởi lẽ họ không xác định được tâm ở đâu? Vì thế họ không thể nhận biết sẽ dùng “cái gì” để mà sống, mà tu hành, học Phật, thoát khổ, giải thoát hoàn toàn,…
Không ít người tu học sơ cơ và cả những người tu học lâu năm nhưng chưa đạt được sự tỏ ngộ giải thoát sẽ chấp trước y kinh trả lời: Tâm không ở trong, không ở ngoài, không ở đoạn giữa. Tâm bao trùm khắp cả vũ trụ, nơi nào cũng là tâm. Tâm là hư không, là Phật, là như như bất động. 
Tôi nói: Bạn đang bị kinh Phật trói, vướng vào sở tri chướng. Vì sao? Vì cái tâm như như bất động của bạn sao lại còn sự phân biệt trong ngoài.
Bạn nói: Thật không có sự phân biệt.
Tôi nói: Bạn không còn có sự phân biệt trong ngoài thì lẽ ra khi nhìn người khác giết chết con gà thì bạn sẽ phải chết.
Bạn khỏa lấp: Tâm là như như bất động. Không có gì gọi là sống hay chết cả? Đó chỉ là vọng tâm.
Tôi nói: Vậy tại sao khi bạn thấy người khác chặt cây rừng, giết gà mổ trâu bạn lại không thấy đau bằng việc người ta đánh đập, xúc phạm bạn. Tại sao bạn cảm thấy đói bụng? Sao bạn lại phải ăn khi đói? Cái tâm như như bất động đã đi đâu rồi? Phải chăng bạn đang học đòi làm “Thánh nhân văn tự”?
Số người học Phật khác sẽ không trả lời câu hỏi “Tâm ở đâu?”. Bởi lẽ họ chấp chặt vào tông chỉ của thiền tông, dùng “Tâm truyền tâm”, “Im lặng là vàng”. Họ quên rằng họ chưa là Tổ, chưa từng qua sông. Nếu thật sự họ đã đạt được sự tỏ ngộ thì lẽ ra phải rõ biết nguyên nhân Phật Thích Ca nhập thế thuyết pháp, độ sinh. Phật đã quán chiếu nhận biết chúng sinh 3 cõi căn tánh muôn ngàn sai biệt như hoa sen trong hồ. Có một số hoa nở xoè cánh sen rực rỡ, một số búp sen vừa chạm đến mặt nước, số hoa sen khác vừa mới hé hàm tiếu, có số khác còn trong bùn, số khác đang ngoi lên,… Vì căn tánh chúng sinh có sự sai biệt lớn nên Phật mới phải thuyết muôn pháp và tùy theo căn tánh của từng đối tượng,… Và có một điều rõ thật là Phật vì người sống, giúp người sống thoát ra mọi sự khổ, đạt được sự giải thoát hoàn toàn mà thuyết pháp chứ không phải vì người chết mà thuyết pháp. Nếu chưa nhận biết được nguyên nhân Phật nhập thế, độ sinh thì đừng ra vẻ là người có sự hiểu biết, gây ngộ nhận cho người học Phật. Lẽ ra người học Phật phải tùy thuận căn tánh của người cầu đạo mà truyền pháp và trao đổi sự hiểu biết một cách chân thật nhằm tìm ra con đường giác ngộ, giải thoát. Nếu người học Phật không mở lòng học hỏi, hướng dẫn người khác tu học, cứ chấp chặt vào sự  im lặng là chân lý thì có lẽ con đường giải thoát còn xa muôn kiếp. Nếu việc im lặng giúp con người có thể thành Phật thì những người bị khuyết tật không nói được phải chăng đều sẽ thành Phật?
Điều quan trọng bậc nhất của người học Phật là phải xác định được: Tâm ở đâu? Tâm là gì?


Dứt phàm thành Thánh

03:54 |
Chương I
Tâm ở đâu?


             I.      Lòng Người Điên Đảo?
Ngày tôi quyết chí cắt ái ly gia tìm con đường thoát khổ bằng việc vào chùa, có rất nhiều người nói với tôi “Tu tại tâm chẳng phải tu tại chùa”, “Tức tâm tức Phật”. Khi tôi hỏi về việc cần làm của một người học Phật thì chỉ nhận được những câu trả lời đại loại là: Hãy tu đi! Hãy hành đi! Nhưng tu cái gì? Hành cái gì? Ngay cả những vị Tăng bảo cao niên cũng không thể chỉ rõ. Tùy tông chỉ của từng pháp môn khác nhau mà có những pháp tu khác nhau. Tông chỉ của thiền môn là trì tụng kinh Kim cang, đọc tụng kinh Sám hối, ngồi thiền. Tịnh độ tông thì chú trọng đọc tụng kinh A di đà, niệm Phật hiệu, tín tâm cầu vãng sanh tịnh độ. Mật tông chú trọng trì chú, ấn quyết, mạn đà la,… Và tất cả các pháp môn đều trói buộc người học Phật phải tin sâu, siêng năng trì tụng sám hối nhằm giảm trừ nghiệp quả tiền kiếp; Rồi nhất tâm niệm Phật, minh tâm kiến tánh,… Có lẽ tôi là người ngu độn, si mê và nhiều hoài nghi. Vì thế tôi không có đủ sự tín tâm cần thiết. Hàng loạt câu hỏi đặt ra: Có thật sự chỉ cần tín tâm niệm Phật là được vãng sanh? Có thật chuyên tâm đọc tụng sám hối sẽ tiêu trừ được nghiệp chướng, phiền não? Việc đọc kinh, trì chú, giữ giới miên mật, hồi hướng công đức giúp các vong linh siêu thoát,… sẽ giúp tôi giải thoát hoàn toàn? Hẳn tôi là người sống rất thực tế. Tôi không tin việc sám hối bằng hình thức đọc tụng giúp tiêu trừ nghiệp cũ. Vì lẽ tôi không rõ những việc xấu ác đó tiền kiếp tôi có làm hay không? Cúng cơm, nguyện cầu giúp chúng sinh nẻo không thân siêu thoát thì tôi sẽ được giải thoát. Sự việc dường như có phần điên đảo. Thật ra tôi độ chúng sinh nẻo không thân hay những chúng sinh đó độ tôi? Nếu việc cầu nguyện tín thành của tôi có thể giúp chúng sinh nẻo không thân vãng sinh Tịnh độ thì việc tôi đọc tụng kinh, trì chú, giữ giới, ngồi thiền,… đã không còn cần thiết. Vì dù cho tôi có tạo tác nghiệp nhân xấu ác thì khi chết đi tôi sẽ nhờ người thân, đạo tràng tín tâm cầu vãng sinh tịnh độ. Mặt khác, tôi sẽ chi một khoản tiền lớn mời đông đảo các vị tăng bảo lập giới đàn nhằm tiêu trừ  mọi tội lỗi đã gieo. Không lẽ đường về cõi Tây phương cực lạc có thể dùng tiền mua được? Sự luân hồi, quy luật nhân quả phải chăng đã đánh mất đi tính khách quan và bình đẳng? Việc học Phật nhằm giải thoát hoàn toàn có còn giá trị gì? Sự hoài nghi khiến tôi không thể tín tâm niệm Phật, đọc kinh, tụng sám hối, trì chú, giữ giới,… Những người học Phật mà tôi biết - người xuất gia và cư sĩ tại gia - đều không cho tôi những câu trả lời thích đáng, họ trói tôi vào việc “Hãy tu đi! Hãy hành đi!”. Tôi lại nghĩ “Những câu hỏi tôi đặt ra đâu có gì là sai trái với giáo lý kinh điển của Đức Phật”. Tôi mơ hồ nhận ra “Dường như chánh pháp đang sống nhờ người chết, người sống đang lợi dụng người chết nhằm có cái ăn, cái mặc; Vậy người chết sống hay người sống sống?”
Tôi tiếp tục tham cứu, học hỏi kinh điển nhằm tìm ra những câu trả lời hợp lý hơn. Kinh Phật khuyên dạy chúng sinh trong 6 đường dứt trừ tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn thì sẽ thoát ra khỏi mọi khổ đau trong cuộc sống và mang lại sự  an lạc cho mọi loài. Tôi lại nhớ “Một người học Phật khi hành trì miên mật, tùy thuận Bát nhã ba la mật - Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ - thì sẽ đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn”. Vậy ra muốn thoát khổ tôi cũng cần có sự hiểu biết. Khi có sự  hiểu biết tôi sẽ có câu trả lời hợp lý cho những câu hỏi về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Qua đó tôi dứt trừ được sự u mê và hoài nghi. Niềm tin tăng trưởng tôi sẽ tinh tấn hành trì và liễu thoát sinh tử. Tôi nhận biết “Tôi đang đi đúng hướng”. Ngoài việc tìm hiểu giáo lý, tôi còn chú trọng thiền định.
Sau những buổi thiền định, tôi có câu hỏi lớn “Tại sao những người học Phật không chấp nhận những câu hỏi chính đáng của tôi?”. Sau cùng, tôi nhận ra “Họ không là Phật. Cũng như tôi, họ là người đang học Phật. Mặc dù vậy họ cũng là người chỉ đường. Họ chỉ đường cho người khác đi con đường mà họ không rõ biết. Không ít người trong số họ lạc vào lối rẽ - lợi dưỡng, độ vong, chờ Phật Di Lặc thọ ký,… Một số khác đang “bận” làm kẻ chỉ đường. Họ quên mất việc họ chưa từng qua sông”.
Chuyển sang vấn đề hành đạo của Lục tổ Huệ Năng - Khi cơ duyên giáo hóa Phật pháp đã đến, Lục tổ Huệ Năng đã nhân dịp tranh luận giữa hai vị Tăng mà nhiếp phục, hiển bày pháp môn đốn ngộ.
Lúc bấy giờ, Lục tổ đi ngang qua chùa Pháp Tánh - Quảng Châu chợt thấy có hai vị tăng tranh luận về nghĩa: Gió động hay lá cờ động? Người thì bảo gió động, người thì nói cờ động, tranh cãi không ngừng. Nhân dịp đó, Lục tổ lên tiếng thức tỉnh hai vị tăng đã rơi vào hý luận - Một việc làm không có nhiều lợi ích đối với một người học Phật. Lục tổ nói: Chẳng tại gió động, chẳng tại lá cờ động mà là tâm hai vị động. Câu nói chứa đựng diệu lý Phật môn của Lục tổ đã được Ấn Tông pháp sư lưu tâm. Chính pháp sư Ấn Tông là người làm lễ xuống tóc cho Lục tổ và bái Lục tổ làm thầy.
Qua câu chuyện trên cho thấy, tâm chính là gốc rễ của người học Phật. Lục tổ nói tâm hai vị tăng động là tùy thuận mà nói. Tâm động vốn là vọng tâm vướng vào cảnh mà có động có tịnh còn chân tâm thì như như bất động - Đối cảnh vô tâm.

Tâm là gì? Tâm ở đâu? Hai câu hỏi dường rất đơn giản nhưng có lẽ sẽ không có nhiều người trong nhân loại đưa ra được câu trả lời chuẩn xác. Những người học Phật thì có thể trả lời hai câu hỏi trên nhưng cũng chỉ là “Bắt chước lời Phật thuyết mà thôi”. Vì bởi họ chỉ thông qua giáo lý nhà Phật mà biết nhưng bản thân lại không sống với cái biết đó. Thế nên Phật giáo mới rơi vào cảnh “Rồng thời vắng, rắn thời nhiều”.