Phẩm Căn Dặn

06:27 |

Bấy giờ, Phật bảo Bồ tát Di Lặc:
- Này ngài Di Lặc! Nay ta đem pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác đã chứa nhóm vô lượng ức a tăng kỳ kiếp công đức mà trao lại cho ông. Những kinh điển như thế, sau khi Phật diệt độ về đời mạt kiếp ông phải ra sức diễn nói và rộng phổ truyền khắp cõi Diêm Phù Đề, hãy nhớ rằng đừng để dứt mất những bộ kinh điển bất khả tư nghị quý báu. Vì sao? Vì ở đời vị lai sẽ có những thiện nam, tín nữ và Thiên, Long, Quỉ thần, Càn thát bà, La sát... phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác với pháp khí đại thừa, nếu họ không được nghe những kinh điển thậm thâm, vi diệu này thì chúng sinh 3 cõi sẽ mất đi vô lượng điều lợi lạc. Ông phải rõ biết những hạng chúng sinh đó nghe diễn nói những kinh điển như thế này sẽ phát tâm đại thừa, cung kính đảnh lễ, thọ trì kinh Pháp rồi tùy thuận chỗ lợi lạc cho mọi chúng sinh mà diễn nói Pháp yếu.
- Ngài Di Lặc này! Ông nên biết Bồ tát có hai hạng. Sao gọi là Bồ tát có hai hạng? Một là hạng Bồ tát ưa thích những ngôn từ hoa mỹ, văn ngữ cao siêu, với hạng ưa thích những câu văn hay đẹp, ngôn từ hoa mỹ ông phải biết đó là Bồ tát mới học Phật; Hai là hạng Bồ tát không e sợ nghĩa lý sâu xa, vi diệu hạng Bồ tát này thâm nhập vào đúng chân nghĩa giáo lý chánh pháp. Với những người học Phật ở nơi kinh điển thậm thâm không nhiễm, không lìa, tham cứu rốt ráo nghĩa lý mà không có sự ngăn ngại, sợ sệt. Sau khi lĩnh hội, hiểu rõ chân thật nghĩa tâm liền thanh tịnh thọ trì, việc làm tùy thuận theo đúng như pháp thì ông phải biết đó là hạng Bồ tát thâm nhập Phật đạo đã thuần thục.
- Ngài Di Lặc này! Lại có hai pháp mà hạng Bồ tát mới học Phật không thể thâm nhập diệu pháp thậm thâm. Hai pháp đó là gì? Một là những kinh điển thậm thâm chưa từng nghe, nếu được nghe thời sợ sệt, sinh lòng nghi hoặc, không tùy thuận được, sau lại khinh chê rồi nói rằng "Kinh này từ trước đến giờ ta chưa từng nghe, kinh này không rõ từ đâu mà có? Kinh này liệu có phải lời Phật thuyết không?"; Hai là nếu có người hộ trì chánh pháp diễn nói những kinh điển sâu xa như thế thì không đồng thuận, không kề cận, cung kính cúng dường, hoặc đem lòng ngờ vực ngay đó buông lời, tạo điều thị phi bắt lỗi của người kia. Ở hai pháp đó, ông phải biết Bồ tát mới học Phật chỉ tự làm tổn hại bản thân bởi do họ không thể ở nơi giáo pháp thậm thâm mà điều phục được tâm.
- Ngài Di Lặc này! Lại có hai pháp, Bồ tát dù đã có sự tin hiểu giáo pháp thậm thâm mà vẫn còn gây ra việc tự làm tổn hại chánh kiến, chính do vậy mà vị Bồ tát đó không thể chứng ngộ Pháp vô sanh. Hai pháp đó là gì? Một là xem thường các Bồ tát mới học mà không chỉ bày hoặc khinh chê; Hai là dù tin hiểu pháp thậm thâm mà lại chấp tướng phân biệt.
Bồ tát Di Lặc nghe Phật nói như thế, liền tham vấn:
- Thưa Thế Tôn! Đây là những điều hy hữu mà con chưa từng được nghe. Theo lời căn dặn của Thế Tôn con quyết xa lìa, tránh phạm những lỗi như thế, con xin gánh vác, giữ gìn pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác đã chứa nhóm từ vô lượng a tăng kỳ kiếp công đức của Như Lai. Nếu đời vị lai có thiện nam, tín nữ nào cầu pháp đại thừa, con sẽ tạo điều kiện cho người đó có được những bộ kinh đại thừa và chỉ bày họ cách thức ghi nhớ để thọ trì, đọc tụng và diễn nói cho người khác. Thưa Thế Tôn! Nếu đời sau có người thọ trì, đọc tụng, diễn nói kinh này cho người khác; Đó chính là do thần lực, trí tuệ vô ngại của Di Lặc thành tựu.
Phật nói:
- Lành thay! Vì lời ông nói ta sẽ tán thán công đức tùy hỷ của ông.
Bấy giờ, các vị Bồ tát đồng chắp tay và nói với Phật:
- Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con ở các cõi nước khắp muôn phương sẽ tùy thuận truyền trao giáo pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác và tạo duyên cho những người học Phật có pháp khí đại thừa thảy đều có được bộ kinh thậm thâm, vi diệu, bất khả tư nghị này.
Lúc đó, bốn vị Thiên vương liền thưa với Phật:
- Ở những chỗ thành ấp, thôn xóm, núi rừng, đồng nội… những nơi có quyển kinh này hoặc những chỗ có người đọc tụng, diễn nói chúng con sẽ đem tất cả quyến thuộc đến để nghe pháp, đồng thời ra sức hộ trì cho người đó, quyết không để những hạng chúng sinh vô minh cố ý làm hại người diễn nói kinh Bất khả tư nghị giải thoát.
Bấy giờ, Phật bảo A Nan rằng:
- Này A Nan! Ông hãy thọ nhận kinh này, về sau truyền rộng khắp muôn phương.
Ngài A Nan thưa:
- Thưa Thế Tôn! Con đã thọ nhận rồi. Kinh này tên gọi là gì?
Phật đáp:
- Kinh này tên là "Kinh Duy ma cật Sở Thuyết" cũng gọi là " Kinh Bất Khả Tư nghị Giải Thoát”.
Phật nói kinh này rồi, trưởng giả Duy ma cật, ngài Văn Thù Sư Lợi, ngài Xá lợi phất, ngài A Nan... và các hàng Trời, Người, A tu la,… tất cả đại chúng có nơi Pháp hội đều rất hoan hỷ, tin nhận, thọ trì.
Tinh yếu lược giải:
Vị Giác giả lại bi mẫn chỉ rõ cho người học Phật với hạnh nguyện Bồ tát cách nhận diện hai hạng Bồ tát học Phật, hai pháp thường gây chướng ngại cho hạng Bồ tát mới học Phật, hai pháp thường gây chướng ngại sự thâm nhập trí tuệ Bát nhã ở Bồ tát đã kiên cố trong đạo Phật.
Sau khi căn dặn Bồ tát Di Lặc hay nói cách khác là người học Phật với pháp khí đại thừa tín cẩn thọ trì, nỗ lực thâm nhập kinh điển thậm thâm rồi rộng diễn nói cho đại chúng học Phật, vị Giác giả đã đúng mực giao phó ngài A Nan, người đại diện cho người học Phật Thanh văn thừa hay nói cách khác là giới Tăng bảo, thành phần chịu trách nhiệm chính về việc gìn giữ, lưu bố kinh điển hãy thọ nhận, lưu giữ và công bố về sự tồn tại bộ kinh Duy ma cật sở thuyết hay còn gọi là kinh Bất khả tư nghị giải thoát. Việc này cho thấy vị Giác giả xác quyết vai trò rất quan trọng của giới Tăng bảo, đây là điều mà người học Phật với pháp khí đại thừa nên rõ biết về công đức bất khả tư nghị của người học Phật theo lối Thanh văn thừa. Vì thế người học Phật nhẫn đến nhân loại rất nên cung kính cúng dường cho giới Tăng bảo những vật dùng thiết yếu đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt thường nhật đối với đời sống của người xuất gia.

Liễu Giải

Vì lẽ sau khi Phật Thích Ca nhập diệt người học Phật Thanh văn thừa đã chẳng rõ dụng tâm Phật nên giải đãi hành trì, trụ nơi lối tu tiểu thừa nên trí tuệ Bát nhã trải qua vô số hà sa kiếp chẳng khai mở. Một số lượng không hề nhỏ người học Phật suy lường, thọ trì việc học Phật chỉ là sự gieo duyên chờ ngày Phật Di Lặc nhập thế, đó là những người học Phật chủ quan suy lường chỉ khi sinh ra thời Phật Di Lặc trụ thế thì họ mới có cơ may đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Khi chứng ngộ vị Giác giả thứ hai rõ biết người học Phật cả hai nẻo - xuất gia và tại gia vì không rõ dụng tâm của Phật Thích Ca thảy đều giải đãi trong việc hành trì chánh pháp. Lại thấy nội tại đạo Phật “Rồng thì vắn, rắn thì nhiều”, người học Phật xuất gia chìm sâu trong lợi dưỡng, lợi danh, việc tranh hơn, luận thắng vô ích,… những việc khiến đạo Phật có nguy cơ rơi vào pháp nạn. Chính vì điều đó vị Giác giả sau thời Phật Thích Ca đã tùy thời bày pháp phương tiện khéo thuyết ra kinh điển đại thừa ngõ hầu đảm bảo cho sự tồn vong bền vững, lâu dài của chánh pháp có nơi đạo Phật.
Sau khoảng 400 - 500 năm kể từ ngày Phật Thích Ca nhập diệt, đạo Phật rơi vào một cuộc pháp nạn đặc biệt nghiêm trọng, việc thua sút trí tuệ của đa số người học Phật trước những luận thuyết của ngoại đạo. Giáo lý cố định có nơi pho kinh điển nguyên thủy của đạo Phật ở một mức độ nào đó đã không còn hợp thời. Trải qua vài trăm năm, trí tuệ nhân loại có những bước tiến dài, các hệ thống tôn giáo quanh lưu vực sông Hằng đã kịp chuyển mình canh tân hoàn chỉnh lại giáo lý cho phù hợp với thời đại. Khi ấy, đạo Phật không được vậy, do tự mãn vai trò độc tôn mang lại sự giải thoát cho chúng sinh Tam giới nên giáo lý đạo Phật đã không có được sự canh tân, bổ khuyết tri thức đúng mực. Có một điều luôn đúng là lý hay thành sự, lúc bấy giờ Phật giáo trước những cuộc tham vấn của ngoại đạo, dòng dõi Sát đế lợi và các tầng lớp xã hội khác ngày càng rơi vào tình trạng đuối lý, phơi bày sự hẹp kém trí tuệ ở người học Phật. Giáo lý đạo Phật vì thế đã không còn được các thành phần, tầng lớp xã hội tín ngưỡng, thọ trì. Nguy cơ giáo lý đạo Phật bị thất truyền ngày càng hiện rõ, ngọn đuốc chánh pháp trở nên lu mờ, tàn lụi.
Trước sự bế tắc tư tưởng ở giáo lý đạo Phật trên diện rộng đã khiến ngay chính người học Phật trở nên hoang mang, hoài nghi về giá trị chánh pháp, về sự giải thoát hoàn toàn.
Trong tình hình bức bách, khốn cùng của sự tồn vong chánh pháp vị Giác giả đời thứ hai trong nhân loại đã nhập thế, vị Giác giả thứ hai liền ra sức đền ơn Phật. Việc phổ truyền kinh điển đại thừa đúng thời của vị Giác giả không chỉ cứu nguy cho sự lụi tàn đạo Phật ở khoảng khắc đương thời mà còn làm bừng sáng ngọn đuốc chánh pháp, giúp giá trị chánh pháp khách quan, đúng mực và sáng rõ có ở đạo Phật lan tỏa rộng khắp.
…
          Thông qua bộ sách Liễu giải kinh Duy ma cật sở thuyết tôi đã dịch giải theo lối Việt hóa ngôn từ Phật học những mong người tham cứu sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận sự đúng mực, khách quan, sáng rõ của giáo lý chánh pháp. Bên cạnh đó là phần Tinh yếu lược giải hy vọng người đọc sẽ nhận diện được chuẩn mực hàm nghĩa mà vị Giác giả thứ hai trình bày thông qua những bộ kinh điển đại thừa.
Ở bộ kinh Duy ma cật sở thuyết , việc chuyển ngữ hoàn toàn từ Hán ngữ sang Việt ngữ là không thể trọn vẹn vì có không ít ngôn từ Phật học khi diễn giải Việt ngữ sẽ khiến câu từ trong đoạn văn sẽ rườm rà, rối rắm. Tuy nhiên, người học Phật, người tham cứu kinh điển Phật học đúng mực, khách quan hãy nên lấy đại ý của bộ kinh làm trọng, đừng quá dính mắc, ràng buộc vào những ngôn từ Phật học chuyên môn mà có sự chướng ngại việc thâm nhập, lĩnh hội trí tuệ Phật.
Cũng lại như vậy, người tham cứu kinh điển đạo Phật chớ đi tìm sự hoàn hảo, toàn bích của những bộ kinh được dịch giải vì điều đó sẽ phần nào ngăn ngại việc khai mở  trí tuệ Bát nhã ở mỗi người. Song khi tham cứu Tam Tạng kinh thì người học Phật rất nên tham cứu kinh điển được diễn giải thông suốt, liễu nghĩa; Chớ nên xem kinh bất liễu nghĩa mà rơi vào tà kiến dẫn đến sự mê mờ chánh pháp, vô minh chồng lấp vô minh.
Hơn nữa, người học Phật nên khách quan, đúng mực, sáng rõ nhận diện trong pho Tam Tạng kinh có không ít bộ kinh được trình bày bởi người chứng ngộ không hoàn toàn và cả việc xen tạp ngụy thư trong chân kinh. Tuy nhiên, dù là ngụy thư trong chân kinh hay là kinh điển không do Giác giả tuyên thuyết thì nơi giáo lý của những bộ kinh thuộc pho Tam Tạng kinh đều ít nhiều chứa đựng giá trị giác ngộ giải thoát, do vậy người học Phật chớ nên hủy báng kinh điển mà hãy kham nhẫn gạn lọc tìm vàng trong khối cát đá, tìm chánh pháp trong khối tà thuyết hỗn độn của vô minh. Người học Phật nên rõ biết tự tánh của vô minh là Bồ đề, rời vô minh mà chứng ngộ Bồ đề là sự hư vọng, hoang đường.
Người học Phật nên rõ biết Tam Tạng kinh điển mà Giác giả tuyên thuyết vốn nương nơi vô minh mà lập, nương nơi giáo lý, tà thuyết ngoại đạo mà thành hình. Người học Phật với pháp khí đại thừa, lòng nên rộng mở chẳng nên mãi chấp Thường - Đoạn, Chánh - Tà, Phật đạo - Ngoại đạo,…
Người học Phật hãy nên luôn ghi nhớ rằng “Bồ tát muốn thành tựu cõi nước thanh tịnh phải đi bên ngoài đạo Phật hành Phật đạo, làm mà không làm, không làm mà không gì không làm” .

Phẩm Pháp Cúng Dường

05:18 |

Bấy giờ, Thiên chủ trời Đế Thích ở trong đại chúng bước ra trình với Phật rằng:
- Thưa Thế Tôn! Con dù theo Phật và ngài Văn Thù Sư Lợi nghe nói trăm ngàn bộ kinh vi diệu mà chưa từng được nghe kinh điển Bất khả tư nghị tự tại thần thông quyết định thật tướng. Theo chỗ con hiểu nghĩa lý từ lời Phật thuyết là nếu có chúng sinh nào nghe kinh pháp này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng thì quyết đắc được pháp bất khả tư nghị giải thoát, điều này không thể khác được. Do vậy nên nếu chúng sinh nào đúng như pháp mà hành trì thì người đó đã chặn lối các nẻo ác, mở các cửa lành, thường được chư Phật hộ niệm, lần lượt sẽ hàng phục được tất cả ngoại đạo, dẹp trừ được ma oán, hành đạo Bồ đề, an tịnh nơi đạo tràng, noi theo việc làm của chư Phật.
- Thưa Thế Tôn! Nếu có người thọ trì đọc tụng, đúng như pháp hành trì thì con cùng quyến thuộc sẽ thường luôn cúng dường, kề cận hộ trì. Ở nơi thôn xóm, thành ấp, núi rừng, đồng nội, chỗ nào có kinh điển này con cùng quyến thuộc sẽ đến chỗ đó nghe thọ pháp yếu. Những người chưa tin, sẽ làm cho họ sinh khởi lòng tin, người đã tin rồi chúng con sẽ hằng hộ trì cho họ thêm tinh tấn, dũng mãnh.
Phật nói:
- Lành thay! Thiên chủ Đế Thích, chúng sinh mai này sẽ trở lại nẻo người! Vì lời ông nói ta sẽ giúp cho ông được thêm hoan hỷ. Kinh điển này vốn chính là kinh điển mở rộng lối vào  đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác bất khả tư nghị của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Vì thế Thiên chủ Đế Thích hãy nên bảo nhậm, thọ trì. Nếu có thiện nam, tín nữ thọ trì, đọc tụng, cúng dường kinh pháp này thì cũng chính là cúng dường chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Thiên chủ Đế Thích này! Giả dụ nếu có thiện nam, tín nữ nào hoặc một kiếp hoặc không đầy một kiếp cung kính cúng dường các món cần dùng cho chư Phật khắp các cõi Tam thiên đại thiên thế giới với số lượng nhiều như mía, tre, lau, lúa, mè, rừng bụi,…; Cho đến sau khi tất cả chư Phật đó diệt độ vị thiện nam, tín nữ kia liền đem xá lợi của mỗi vị Phật gìn giữ trong bảo tháp trang nghiêm được xây dựng bằng bảy loại kỳ trân, dị bảo quý hiếm bậc nhất, mỗi bảo tháp ngang rộng bằng bốn cõi thiên hạ, cao đến trời Phạm thiên, bảo tháp được trang trí bằng tất cả hoa hương, anh lạc, lọng báu,… tuyệt đẹp, việc làm này cũng trải qua một kiếp hoặc ít hơn một kiếp cúng dường. Này Thiên chủ Đế Thích! Ông thử nghĩ xem người đó làm như vậy có tạo được phước đức nhiều không?
Thiên chủ Đế Thích đáp:
- Thưa Thế Tôn! Thật rất nhiều! Phước đức của người đó dù cho trải trăm ngàn ức kiếp nói mãi cũng không thể hết.
Phật nói:
- Này Thiên chủ Đế Thích! Ông và đại chúng nên biết vị thiện nam, tín nữ nào mà nghe kinh điển bất khả tư nghị giải thoát này tin hiểu, thọ nhận, đọc tụng, hành trì thì phước đức hơn hẳn người làm việc cúng dường kia. Vì sao? Vì quả Bồ đề của chư Phật đều từ kinh điển này mà thành tựu. Tướng Bồ Đề không có hạn lượng do vậy nên phước đức của người thọ trì kinh điển này cũng không có hạn lượng.
Phật lại bảo Thiên chủ Đế Thích:
- Về quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, lúc ấy ở đời có Phật hiệu là Dược Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Cõi nước đó tên Đại Trang Nghiêm, tên kiếp là Trang Nghiêm. Phật Dược Vương thọ 20 tiểu kiếp, chúng Thanh văn Tăng có 36 ức na do tha, chúng Bồ tát Tăng có 12 ức. Lúc đó, có vị Chuyển Luân Thánh Vương tên là Bảo Cái, vị này có đầy đủ bảy báu, cai trị cả bốn thiên hạ. Vua có một ngàn người con tốt đẹp, dũng mãnh,… một ngàn người con này thường hay ra sức dẹp trừ các bọn giặc cướp tàn ác, những kẻ thù hung bạo. Bấy giờ, Vua Bảo Cái cùng quyến thuộc cúng dường Đức Dược Vương Như Lai, dâng cúng các đồ cần dùng đến mãn năm kiếp. Qua năm kiếp rồi, vua Bảo Cái căn dặn một ngàn người con rằng “Các con cũng phải đem tấm lòng kiên cố tín tâm cúng dường Phật Dược Vương như là ta đã từng làm”. Khi đó, một ngàn người con đều vâng lời vua cha cúng dường Đức Dược Vương Như Lai, dâng cúng tất cả đồ cần dùng cũng mãn năm kiếp.
Một hôm, có một người con của vua Bảo Cái tên là Nguyệt Cái ngồi một mình suy nghĩ “Có việc cúng dường nào thù thắng hơn việc cúng dường Phật Dược Vương chăng?”.
Do nương sức trí tuệ Phật, ở giữa hư không có vị Trời nói:
- Thiện nam tử! Pháp cúng dường là hơn hết các việc cúng dường.
Nguyệt Cái liền hỏi:
- Sao gọi là pháp cúng dường?
Vị trời đáp:
- Ông đến hỏi Dược Vương Như Lai sẽ nói rõ thế nào là pháp cúng dường.
Nghe vậy, Nguyệt Cái vương tử liền đi đến chỗ Dược Vương Như Lai cúi đầu lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên và thưa:
- Thưa Thế Tôn! Con nghe nói “Trong tất cả việc cúng dường có pháp cúng dường là hơn hết”. Nay con xin được Thế Tôn chỉ bày “Thế nào gọi là pháp cúng dường?”.
Phật dạy rằng:
- Thiện nam tử! Pháp cúng dường là kinh thâm diệu của chư Phật tuyên thuyết. Tất cả chúng sinh nơi 3 cõi nhất thời khó tin, khó nhận vì sự vi diệu, thù thắng, nhiệm màu khó thấy, sự thanh tịnh không nhiễm, không phải lấy suy lường phân biệt mà rõ biết được. Kinh này là Pháp bảo trong kho tàng Pháp tạng của chư Phật, là Ấn pháp tổng trì, nhẫn đến bất thoái chuyển, thành tựu lục độ ba la mật, khéo phân biệt các nghĩa, thuận pháp Bồ đề, dẫn đầu các kinh Tạng, vào đại từ bi, lìa các việc ma oán và các tà kiến, thuận pháp nhân duyên, không ngã, không nhân, không chúng sinh, không thọ giả, không vô tướng, vô tác, không khởi,… làm cho chúng sinh ở nơi đạo tràng mà chuyển pháp luân, chư Thiên, Long thần, Càn thát bà thảy đều ngợi khen. Pháp cúng dường đưa chúng sinh học Phật vào Pháp tạng thâm sâu của Như Lai, thu nhiếp tất cả trí tuệ của Hiền Thánh, diễn nói các pháp hành của Bồ tát, nương theo nghĩa thật tướng của các pháp, hiển bày các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt, cứu độ chúng sinh hủy phá giới cấm, làm cho tà ma, ngoại đạo và người tham lam chấp trước đều sợ sệt; Chư Phật, Hiền Thánh đều xiểng dương. Pháp thí trừ diệt tất cả mọi khổ não, sinh tử chỉ bày niềm an lạc Niết bàn, chư Phật ba thời ở khắp 10 phương đều diễn nói. Nếu người nào nhân được nghe những buổi Pháp thí mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, dùng sức phương tiện biện giải, chỉ bày rành rõ cho chúng sinh học Phật, giữ gìn chánh pháp; Đó gọi là pháp cúng dường.
Lại theo các pháp hành trì, tùy thuận 12 nhân duyên, lìa tà kiến, được vô sanh pháp nhẫn, quyết định không có ngã, không có chúng sinh mà đối với quả báo nhân duyên không chống trái, lìa các ngã sở, y theo nghĩa không y theo lời, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh không liễu nghĩa, y theo pháp không y theo người, thuận theo pháp tướng, không chỗ vào, không chỗ về, vô minh diệt hết thời hành cũng diệt hết, cho đến sinh diệt hết thời già chết cũng diệt hết, quán như thế thì 12 nhân duyên không có tướng diệt hết, cũng không có tướng khởi sinh; Đó gọi là pháp cúng dường hơn hết các việc cúng dường.
Phật lại nói với Thiên chủ Đế Thích:
- Vương tử Nguyệt Cái theo Phật Dược Vương nghe pháp như thế rồi được Pháp nhu thuận nhẫn, Vương tử Nguyệt Cái liền cởi y báu và đồ trang sức nơi thân cúng dường Phật và nguyện “Thưa Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ con sẽ thực hành pháp cúng dường để gìn giữ chánh pháp, nguyện nhờ sức trí tuệ của Như Lai thương xót gia hộ cho con được hàng phục ma oán, tu hạnh Bồ tát”. Phật Dược Vương biết trong tâm niệm của Nguyệt Cái mà thọ ký rằng "Về đời sau này ông sẽ giữ gìn thành trì chánh pháp".
- Này Thiên chủ Đế Thích! Vương tử Nguyệt Cái lúc đó có được Pháp nhãn thanh tịnh nghe Phật thọ ký đem lòng chánh tín xuất gia thọ trì các pháp lành, tinh tấn chỉ trong một khoảng thời gian ngắn chứng đạt ngũ thông, đủ đạo hạnh Bồ tát, được môn tổng trì, biện tài vô ngại. Sau khi Phật Dược Vương diệt độ, Tỳ kheo Nguyệt Cái dùng sức thần thông, tổng trì biện tài đã chứng được y theo pháp của Dược Vương Như Lai mà diễn nói pháp suốt 10 tiểu kiếp. Tỳ kheo Nguyệt Cái giữ gìn Phật pháp, siêng tinh tấn ngay đời đó hóa độ được trăm muôn ức người ở nơi đạo vô thượng bồ đề, giúp họ không còn ý thoái chuyển, 14 na do tha người phát tâm Thanh văn thừa, Duyên Giác thừa và vô lượng chúng sinh được sinh về các cõi Trời.
Này Thiên chủ Đế Thích! Vua Bảo Cái lúc ấy hiện nay đã thành Phật hiệu là Bảo Diệm Như Lai, còn một ngàn người con của vua Bảo Cái chính là một ngàn vị Phật trong đời Hiền kiếp mà đức Ca La Cưu Tôn Đà thành Phật trước hết, đến vị Phật thành tựu sau cùng hiệu là Lầu Chí Như Lai, còn Nguyệt Cái Tỳ kheo chính là Ta.
Như thế đấy, Thiên chủ Đế Thích! Ông và đại chúng hãy nên ghi nhớ trong các pháp có Pháp cúng dường là dẫn đầu các pháp. Này Thiên chủ Đế Thích! Chúng sinh 3 cõi hãy lấy Pháp cúng dường mà cúng dường chư Phật.
Tinh yếu lược giải:
Phẩm Pháp cúng dường là Phẩm xưng tán công đức thù thắng, bất khả tư nghị của kinh Duy ma cật sở thuyết. Người học Phật hãy nên tham cứu, quán chiếu cùng tột những lời mà Như Lai tuyên thuyết về sức tự tại, vô úy, vi diệu của bộ kinh Duy ma cật sở thuyết.
“Chúng sinh 3 cõi hãy lấy Pháp cúng dường mà cúng dường chư Phật” - Thật đúng là pháp môn không hai không thể nghĩ bàn. Đây là hạnh Bồ tát mà người học Phật rất nên thọ trì để báo đền ơn Phật.
Trong các việc cúng dường, Pháp cúng dường là thù thắng, vi diệu bậc nhất. Người nào nghe kinh điển rồi sinh lòng tin nhận, đọc tụng, y pháp thọ trì nhất thiết sẽ thành tựu quả vô thượng chánh đẳng, chánh giác.
Riêng phần tiền kiếp, hậu kiếp của chư Phật trong pho Tam Tạng kinh (nói chung), kinh Duy ma cật sở thuyết (nói riêng) cũng có giá trị đồng với giá trị lục chủng chứng tín nơi phần mở đầu ở tất cả bộ kinh. Đó chỉ là việc xác tín niềm tin cho người học Phật khi mà chúng sinh thời xa xưa chưa đủ tri kiến để phân biệt đâu là chánh pháp, đâu là ngụy kinh; Còn với người học Phật đã sáng rõ chánh pháp thì những phần ngoại biên của chánh kinh chỉ là phần tham khảo, là màu sắc hoa lá cành của ngón tay chỉ mặt trăng.
Nếu có sự chú tâm đúng mực thì người học Phật sẽ nhận ra những câu chuyện nói về tiền kiếp, hậu kiếp chư Phật cũng chỉ là một pháp phương tiện khéo chỉ bày cho người tham cứu về những việc mà Bồ tát thị hiện, đó là những việc ích người, lợi mình. Do vậy người học Phật đúng mực hãy nên khéo hay phân biệt điều chân ngụy, thật giả song chớ rơi vào sự ràng buộc. Chớ sinh lòng tham đắm, dính mắc hư huyễn mà lạc lối chánh đạo, trượt dài nơi đường cùng, lối rẽ mà luống uổng nhiều đời trôi lăn, chìm nổi nơi lưới mộng luân hồi.

Phẩm Được Thấy Phật A Súc

03:34 |

Bấy giờ, Thế Tôn hỏi ngài Duy ma cật rằng:
- Này cư sĩ Duy ma cật! Muốn thấy Như Lai thì Bồ tát phải quán chiếu như thế nào?
Trưởng giả Duy ma cật đáp:
- Muốn thấy Như Lai thì Bồ tát phải quán thật tướng của thân. Quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không ở; Không quán sắc, không quán sắc như, không quán sắc tánh; Không quán thọ, tưởng, hành, thức, không quán thức như, không quán thức tánh; Không phải tứ đại sinh, cũng không do hư không sinh; Không do sáu nhập, không do sự nhóm họp mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm; Không ở ba cõi đã lìa đắm nhiễm, thuận ba môn giải thoát; Có đủ ba minh cùng như vô minh, không một tướng, không khác tướng, không tự tướng, không tha tướng, không phải không tướng, không phải chấp tướng; Không bờ bên này, không bờ bên kia, không giữa dòng mà hóa độ chúng sinh; Quán tịch diệt mà không diệt hẳn; Không đây, không kia, không nương nơi đây, không nương nơi kia; Không thể dùng trí mà hiểu được, không thể dùng thức mà biết được; Không tối không sáng; Không danh không tướng; Không mạnh không yếu; Không phải sạch, không phải dơ; Không ở chỗ trụ, không lìa chỗ trụ; Không phải hữu vi, không phải vô vi; Không bày không nói; Không bố thí, không bỏn sẻn; Không giữ giới, không phạm giới; Không nhẫn, không giận; Không tinh tấn, không giải đãi; Không định, không loạn; Không trí không ngu; Không thật không dối; Không đến không đi; Không ra không vào; Bặt đường nói nín; Không phải phước điền, không phải không phước điền; Không phải xứng đáng cúng dường, không phải không xứng đáng cúng dường; Không phải thủ, không phải xả; Không phải có tướng, không phải không tướng; Đồng với thực tế, bình đẳng như pháp tánh; Không thể cân, không thể lường, vượt các sự cân lường, không lớn không nhỏ; Không phải thấy, không phải nghe; Không phải giác, không phải tri; Lìa mọi ràng buộc, bình đẳng các trí, đồng với chúng sinh; Đối với các pháp không phân biệt; Tất cả đều không đầy vơi, không phiền không khổ, không tác không khởi, không sinh không diệt, không sợ không lo, không mừng không chán, không đã có, không sẽ có, không hiện có, không thể lấy tất cả lời nói phân biệt chỉ bày được. Thưa Thế Tôn! Tánh tướng Như Lai là thật tướng vạn pháp,… Muốn thấy Như Lai phải quán chiếu như thế, đây gọi là chánh quán, còn quán Như Lai không đúng pháp quán chiếu như thế gọi là tà quán.
Lúc ấy, ngài Xá lợi phất hỏi:
- Thưa Đại sĩ Duy ma cật! Ngài ở đâu chết rồi sinh nơi đây?
Trưởng giả Duy ma cật nói:
- Thưa ngài Xá lợi phất! Pháp của ngài chứng ngộ có chết rồi sinh không?
Ngài Xá lợi phất đáp:
- Thưa nhân giả! Pháp tôi chứng ngộ thời không chết không sinh.
Trưởng giả Duy ma vấn  ngài Xá lợi phất:
- Nếu các pháp không có tướng chết rồi sinh, vậy tại sao ngài lại hỏi tôi ở đâu chết rồi sinh ra nơi đây? Ví như nhà huyễn thuật tạo ra những hình tướng nam nữ, ngài thử nghĩ xem những hình tướng nam nữ huyễn hóa ấy có chết rồi sinh ra không?
Ngài Xá lợi phất nói:
- Vì hình tướng nam nữ do nhà huyễn thuật làm ra là tướng giả hợp, là tướng huyễn hóa nên không có việc chết rồi sinh ra.
Trưởng giả Duy ma cật truy vấn:
- Thưa ngài Xá lợi phất! Ngài không nghe Phật thuyết các pháp tướng đều như huyễn hay sao?
Ngài Xá lợi phất đáp:
- Thưa nhân giả! Tôi có nghe Phật nói điều đó.
Trưởng giả Duy ma cật nói:
- Nếu các pháp tướng như huyễn thời tại sao ngài còn hỏi “Tôi ở đâu chết rồi sinh nơi đây?”. Thưa ngài Xá lợi phất! Chết là cái tướng hư hoại của pháp hư dối, sinh là tướng tương tục của pháp hư dối, Bồ tát dù chết không dứt mất gốc lành, dù sống cũng không thêm các điều ác.
Bấy giờ, Phật nói với ngài Xá lợi phất:
- Có cõi nước Diệu Hỷ, Như Lai cõi nước Diệu Hỷ hiệu là Phật Bất Động, trưởng giả Duy ma cật này từ ở cõi nước Diệu Hỷ hóa sinh ở cõi Ta Bà.
Ngài Xá lợi phất lại hỏi:
- Thật chưa từng có vậy, thưa Thế Tôn! Người này chịu bỏ cõi thanh tịnh mà đến chỗ nhiều não hại, oán phiền.
Trưởng giả Duy ma cật nói với ngài Xá lợi phất:
- Thưa ngài Xá lợi phất! Ngài thử nghĩ xem. Lúc ánh sáng mặt trời soi chiếu lên khắp cõi Ta Bà, ánh sáng mặt trời có hiển hiện chung cùng với bóng tối không?
Ngài Xá lợi phất đáp:
- Thưa Đại sĩ Duy ma cật! Khi ánh sáng mặt trời soi sáng thì không còn bóng tối nữa.
Trưởng giả Duy ma cật hỏi:
- Mặt trời tại sao lại đi qua cõi Diêm Phù Đề?
Ngài Xá lợi phất đáp:
- Vì mặt trời mang lại ánh sáng soi chiếu, xua đi sự tối tăm cho cõi nước Diêm Phù Đề.
Trưởng giả Duy ma cật nói:
- Bồ tát cũng thế, việc hóa sinh ở cõi nước bất tịnh là  cốt để hóa độ mọi chúng sinh, việc hóa sinh của Bồ tát không có thỏa hiệp, chung cùng với sự u mê, tăm tối mà là nhằm vào việc dứt trừ khổ não, muộn phiền ở tất cả chúng sinh.
Nghe đến đây, đại chúng đồng khởi niệm những mong được tận mắt chiêm bái Phật Bất Động cùng các hàng Bồ tát, hàng Thanh văn ở cõi nước Diệu Hỷ.
Phật biết tâm niệm của đại chúng nên bảo trưởng giả Duy ma cật:
- Này Đại sĩ Duy ma cật! Đại sĩ hãy hiện cõi nước Diệu Hỷ, Phật Bất Động và các hàng Bồ tát, Thanh văn cho đại chúng cõi Ta Bà được trông thấy, đại chúng đây đều đang rất ngưỡng mộ, mong mỏi được gặp.
Lúc ấy, trưởng giả Duy ma cật dụng tâm “Ta sẽ không rời chỗ ngồi mà tiếp lấy cõi nước Diệu Hỷ, núi, sông, khe, hang, ao hồ, biển lớn, nguồn suối, các núi Thiết Vi, Tu Di, và mặt trời, mặt trăng, các vì sao, các cung điện của Thiên, Long, quỉ thần, Phạm thiên cùng các hàng Bồ tát, Thanh văn, thành ấp, thôn xóm, trai gái lớn nhỏ, cho đến Phật Bất Động và cây bồ đề, hoa sen quí, những thứ có thể làm Phật sự trong mười phương, ta hóa hiện thềm báu nối liền cõi Diêm Phù Đề đến cõi trời Đao Lợi, do có thềm báu nối liền này mà chư Thiên đồng phó hội, chư Thiên sẽ cung kính đảnh lễ Phật Bất Động và nghe thọ kinh pháp; Người ở cõi Diêm Phù Đề cũng lên thềm báu đó mà đi lên cõi trời Đao Lợi để chiêm bái chư Thiên. Cõi nước Diệu Hỷ sẽ thành tựu công đức vô lượng, trên đến trời Sắc Cứu Cánh, dưới đến tận Long cung. Trưởng giả Duy ma cật liền dùng bàn tay phải xoay nhanh một cái như cách xoay chiếc bàn xoay của người thợ gốm lành nghề, liền đó nhấc bổng cõi nước Diệu Hỷ đem về cõi Ta Bà, cõi nước Diệu Hỷ bấy giờ tựa như là chiếc tràng hoa, tất cả đại chúng cõi Ta Bà đều được thấy. Khi trưởng giả Duy ma cật hiện sức thần thông mang cõi nước Diệu Hỷ về cõi Ta Bà, các Bồ tát và chúng Thanh văn cùng các hàng trời, người có thần thông ở cõi nước Diệu Hỷ đều cất tiếng hỏi Phật Bất Động:
- Thưa Thế Tôn! Có ai đó đang đem chúng con đi, mong Thế Tôn ứng cứu.
Phật Bất Động đáp:
- Không phải do ta làm, đó là thần lực của trưởng giả Duy ma cật.
Cùng lúc đó, những chúng sinh ở cõi nước Diệu Hỷ mà chưa có thần thông thảy đều không hay không biết mình đã bị mang đi. Cõi nước Diệu Hỷ dù bị đặt vào cõi Ta Bà mà vẫn vẹn nguyên, không có sự bó hẹp; Cũng lại như vậy, cõi Ta Bà cũng không hề bị chèn lấn, vẫn giữ nguyên hiện trạng ban đầu.
Bấy giờ, Phật Thích Ca nói:
- Đại chúng hãy chiêm ngưỡng Phật Bất Động, cõi nước Diệu Hỷ, cõi nước đó trang nghiêm thật tốt đẹp, chúng Bồ tát cùng hàng đệ tử đều thanh tịnh.
Đại chúng đáp:
- Thưa Thế Tôn! Thật là chưa từng có. Đại chúng nay thảy đều được thấy.
Phật nói:
- Này các vị Bồ tát! Nếu muốn được cõi nước Ta Bà thanh tịnh như thế thì Bồ tát cần thọ trì hạnh nguyện của Phật Bất Động.
Khi hiện ra cõi nước Diệu Hỷ này, cõi Ta bà có 14 na do tha chúng sinh liền phát tâm vô thượng bồ đề, họ đều nguyện được thọ sinh sang cõi nước Diệu Hỷ. Phật Thích Ca biết rõ tâm ý những chúng sinh vọng ngoại đó liền thọ ký “Những ai cầu sinh sang cõi Phật Bất Động sẽ đặng sinh sang nước cõi nước Diệu Hỷ”.
Khi đã làm xong việc Phật sự, cõi nước Diệu Hỷ được trưởng giả Duy ma cật mang đặt về đúng nơi chốn cũ.
Phật bảo ngài Xá lợi phất:
- Ông có thấy rõ cõi nước Diệu Hỷ và Phật Bất Động không?
Ngài Xá lợi phất đáp:
- Thưa Thế Tôn! Con đã thấy rõ. Con nguyện tất cả chúng sinh ở mười phương đều được cõi nước thanh tịnh như cõi Phật Bất Động và sức thần thông tự tại như trưởng giả Duy ma cật.
- Thưa Thế Tôn! Chúng con thật sự được nhiều lợi lành, được thấy và gần gũi cúng dường Đại sĩ Duy ma cật. Con nguyện những chúng sinh hoặc hiện tại hoặc sau khi Phật diệt độ mà nghe kinh này cũng đều được lợi lành. Thật càng lợi lạc hơn khi có người được nghe rồi tin hiểu, thọ trì, đọc tụng diễn nói và đúng như pháp hành trì. Nếu có người nào đặng duyên thọ nhận bộ kinh điển này thì người đó đã có được kho tàng Pháp bảo Như Lai tạng. Nếu có người đọc tụng giải thích nghĩa lý kinh này, lại đúng như lời pháp hành trì thời được chư Phật hộ niệm. Nếu có ai cúng dường những người y pháp hành trì như thế tức là việc cúng dường tất cả chư Phật. Nếu có người nào biên chép thọ trì kinh này thì trong nhà người đó có Như Lai. Nếu người nghe kinh này mà tùy hỷ tín thọ thời người đó sẽ dần tiến đến bậc nhất thiết chủng trí. Nếu người tin hiểu kinh này cho đến ghi nhớ một bài kệ rồi diễn nói cho người khác nghe, phải biết người đó được thọ ký quả vô thượng bồ đề.
Tinh yếu lược giải:
Vì biết người học Phật, chúng sinh vô minh chấp Sắc tướng Như Lai với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp… Giác giả đã dùng pháp phương tiện xảo diệu cảnh tỉnh người học Phật hãy dùng chánh quán để quán chiếu Như Lai, chớ sinh lòng si mê, tà vạy những mong trông thấy Phật ở hình tướng, thanh sắc.
…
Ở Phẩm được thấy Phật A Súc, ngài Xá lợi phất lại thêm một lần nữa phơi bày bản tánh chấp thủ của người học Phật Thanh văn thừa, việc sinh tử, chỗ đến đi của Bồ tát Duy ma cật. Và ngài Duy ma cật phải thêm một lần cảnh tỉnh những chỗ học hiểu mà không thể liễu ngộ, thấu triệt ở người học Phật chấp văn tự, ngôn thuyết, Pháp ngữ.
Qua lời vấn của ngài Duy ma cật người học Phật khách quan sẽ nhận ra người học Phật Thanh văn thừa tựa nơi kinh điển, lời Phật thuyết dường như đã hiểu cả nhưng không thể tùy nghi khởi dụng đúng thời, pháp hành do vậy có sự ngưng trệ, trí tuệ theo đó cũng có sự giới hạn, khó thông đạt vạn pháp.
Vì rõ biết với người học Phật chẳng rõ chánh pháp, giới học Phật hãy còn chấp Tướng đều cho rằng Phật, Bồ tát là có sự đến đi. Do duyên ấy, vị Giác giả đã thuyết cư sĩ Duy ma cật đến từ một nơi được trang nghiêm tuyệt đẹp, thanh tịnh, thuần khiết,… cõi nước đó có tên Diệu Hỷ, nơi Phật Bất Động thường trụ.
Cõi nước Diệu Hỷ là cõi nước nào? Phật Bất Động là ai?
Người học Phật không mê đắm điều huyễn hóa, việc tham đó, bỏ đây sẽ dễ dàng nhận ra cõi nước Diệu Hỷ chính là cõi Ta Bà - Phật quốc. Việc đó thành tựu khi người học Phật dứt tâm phân biệt đối đãi thủ xả, lập hạnh Bồ tát trang nghiêm cõi nước thanh tịnh thuần khiết và Phật Bất Động cũng chính là Như Lai không đến không đi, không sinh không diệt, không trước không sau.
Với người học Phật đại thừa, căn tánh linh mẫn thì sẽ không bị tướng ngôn thuyết làm mê tâm, đem lòng chấp thủ điều hư vọng. Song căn tánh người học Phật xưa nay vốn không đồng thế nên vị Giác giả đã tùy thuận dùng pháp phương tiện thỏa mãn hạnh nguyện của người học Phật theo lối tiểu thừa - Như Lai thọ ký “Những ai cầu sinh sang cõi Phật Bất Động sẽ đặng sinh sang nước cõi nước Diệu Hỷ”. Đây là việc làm nhằm duy trì niềm tin về chánh pháp, là sự quyền biến ngõ hầu dung chứa, cứu khổ  mọi chúng sinh với muôn ngàn căn tánh dị biệt, đây là pháp phương tiện quyền biến nhằm giúp người học Phật an tâm đi trên đường lớn chánh đạo, việc ra sức thọ trì chánh pháp dần dần sẽ giúp người học Phật có xu hướng vọng ngoại chạm đến nguồn an lạc, trực nhận và thâm nhập sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Sau cùng, ngài Xá lợi phất đã thay mặt đại chúng tán thán chỗ vi diệu, thù thắng của bộ kinh chứa đựng rất nhiều pháp phương tiện thiện xảo, quyền biến.
Con nguyện những chúng sinh hoặc hiện tại hoặc sau khi Phật diệt độ mà nghe kinh này cũng đều được lợi lành. Thật càng lợi lạc hơn khi có người được nghe rồi tin hiểu, thọ trì, đọc tụng diễn nói và đúng như pháp hành trì. Nếu có người nào đặng duyên thọ nhận bộ kinh điển này thì người đó đã có được kho tàng Pháp bảo Như Lai tạng. Nếu có người đọc tụng giải thích nghĩa lý kinh này, lại đúng như lời pháp hành trì thời được chư Phật hộ niệm. Nếu có ai cúng dường những người y pháp hành trì như thế tức là việc cúng dường tất cả chư Phật. Nếu có người nào biên chép thọ trì kinh này thì trong nhà người đó có Như Lai. Nếu người nghe kinh này mà tùy hỷ tín thọ thời người đó sẽ dần tiến đến bậc nhất thiết chủng trí. Nếu người tin hiểu kinh này cho đến ghi nhớ một bài kệ rồi diễn nói cho người khác nghe, phải biết người đó được thọ ký quả vô thượng bồ đề.