Chọn lựa của nhân loại

09:21 |

Loài người đã đi rất xa nguồn cội, gốc tích của chính mình. Nguyên ủy sự sống đang được tri thức nhân loại tìm kiếm ở những nơi xa xăm, những nơi mà sự sống đã từng tàn lụi và hiện đang cố góp nhặt hình hài, thân xác từ đất nước gió lửa cùng những tâm ý sự sống chưa thể tan rã hoàn toàn.
Khi tìm nguồn gốc sự sống - con người, phải chăng tri thức loài người đã quên mất con người là một thực thể sống?
Đi tìm nguồn cội, gốc tích con người mà tri thức con người lại không nhận diện được “Đâu là con người?” thì quả thật đây là sự vô minh bậc nhất của tri thức nhân loại.
Phải chăng sự hướng ngoại cùng lối sống thực dụng đã khiến con người đang tự lừa dối chính con người?
Con người đang điên đảo vẫy vùng trong sự hiểu biết chủ quan, phiến diện, thiển cận đến mông muội.
Phải chăng con người có thể sống chỉ bằng vào một xác thân hoàn chỉnh mà không cần đến phần tâm ý sự sống vô hình chi phối, tác động?
Điều này là không thể vì thân xác người chết vẫn vẹn nguyên nhưng không thể đi đứng nói cười.
Vậy quyết định cho cái khái niệm gọi là sự sống sẽ do phần thân xác hữu hình quyết định hay do phần tâm vô hình quyết định?
Có lẽ là cả hai.
Có lẽ là cả hai? Câu trả lời này đúng cùng chẳng đúng.
Sao lại có việc đúng cùng chẳng đúng?
Câu trả lời đúng là đúng theo quy ước về khái niệm sự sống hiện nay của tri thức nhân loại. Tri thức nhân loại đang hạn cuộc khái niệm sự sống ở những sự vật hiện tượng có thể nhìn thấy hoặc nhận biết được bằng vào một cách thức nào đó.
Tuy nhiên, quy ước sự sống của tri thức nhân loại hiện nay đã rơi vào biên kiến, có sự chủ quan nên quy ước khái niệm sự sống của loài người đã không thật đúng. Chính vì vậy mà có việc đúng cùng chẳng đúng.
Tại sao nói tri thức loài người rơi vào biên kiến chủ quan? Có thể nói việc chẳng đúng rõ ràng, cụ thể hơn không?
Với góc nhìn của khoa học và tri thức nhân loại hiện nay quả thật là không dễ trình bày chỗ chẳng đúng về việc cả thân xác hữu hình và phần tâm vô hình đều là yếu tố quyết định sự sống tồn tại.
Thế này vậy. Ta tạm chấp nhận giả thuyết khái niệm sự sống có tồn tại ở dạng vô hình thì sự chẳng đúng sẽ dễ hiển bày hơn. Thật ra sự sống tồn tại ở dạng vô hình là thật có, đây mới chính là sự hiểu biết khách quan, đúng mực và sáng rõ mà tri thức nhân loại cần chạm đến.
Khi chấp nhận sự sống tồn tại ở dạng vô hình thì chỗ chẳng đúng ở câu trả lời cả phần thân xác hữu hình và phần tâm vô hình sẽ bày ra.
Vì sao?
Vì phần tâm vô hình mới  thật sự quyết định sự sống. Khi con người và mọi loài chết đi phần thân xác hữu hình vẹn nguyên nhưng hoàn toàn bất động và dần tàn hoại; Còn phần tâm vô hình ngỡ như mất đi kỳ thực lại tồn tại ở một dạng sống không có xác thân vật chất Có - vật chất hữu hình. Phần tâm vô hình đó sẽ tồn tại ở dạng vật chất Không cho đến khi hội đủ yếu tố duyên thì lại nương gá vào một xác thân vật chất hữu hình khác rồi tiếp tục tạo tác trôi lăn. Chính vì vậy nên phần tâm vô hình không thật sự chết, phần tâm vô hình chỉ là luân chuyển sang một dạng sống khác mà bằng mắt thường và các phương tiện dò tìm hiện tại chưa thể nhận diện. Vậy nên kết luận sự sống do phần tâm vô hình quyết định mới có sự đúng mực, khách quan và toàn diện.
Điều này vô lý, giả định này không có bằng chứng nên không thể tính thuyết phục. Đây là sự hoang đường, mê tín dị đoan.
Vậy việc một xác thân hoàn chỉnh nằm bất động và một người sống có thể đi đứng nói cười khác nhau chỗ nào?
Tạm chấp nhận giả thuyết do phần tâm vô hình chi phối. Chỉ thế thôi. Sau cùng, chết là hết - cả phần tâm vô hình lẫn phần xác hữu hình đều tàn hoại, tan rã.
Sự tàn hoại, tan rã của phần xác hữu hình, phần tâm vô hình có đạt đến sự hoàn toàn không?
Tan rã hoàn toàn.
Tan rã hoàn toàn, điều này có thật không? Chẳng phải là phần thân xác hữu hình chỉ tan rã trả hơi thở cho gió, trả hơi ấm cơ thể cho lửa, trả các vật chất hữu cơ - vô cơ cho đất, trả máu, các chất lỏng có trong cơ thể về cho nước. Phải chăng tất cả những vật chất tạo nên thân xác hữu hình chỉ tan rã trả về lại nguồn gốc tứ đại ban đầu chứ không hoàn toàn mất đi? Đây là sự tan rã không hoàn toàn.
Đúng vậy. Vật chất hữu hình có sự tan rã không hoàn toàn. Còn phần tâm vô hình sẽ tan rã hoàn toàn vì vật chất không sẽ trả về cho hư không, là không còn gì cả.
Nói vật chất không trả về cho Không đại trở nên không còn gì là lời khẳng định không thật đúng. Những nhận định rơi vào biên kiến thường rất chủ quan, vội vàng và kết quả là những sự sai lầm. Đã nói vật chất không trả về cho Không đại thì sẽ còn nguyên vẹn vì Không đại là có trong nhận thức, tư duy của loài người; Không đại có thật, Không đại không đồng nghĩa là không có hiện hữu. Do vậy nói phần tâm vô hình tan rã hoàn toàn là lời khẳng định lỗi lầm.
Hơn nữa, phần tâm vô hình không chỉ đơn thuần là một sự rỗng lặng, trống không, nơi phần tâm có lưu xuất ra phần ý - thức. Nếu 4 yếu tố vật chất hữu hình có ở phần thân xác không tan rã hoàn toàn mà trả về cho tứ đại, phần tâm vô hình cũng không tan rã hoàn toàn mà chỉ trả về không đại thì phần ý - thức cũng sẽ không dễ tan rã hoàn toàn, phần ý - thức sẽ tồn tại ở đâu, duy trì ở dạng gì?
…
Phần tâm vô hình có thể tự nương gá vào xác thân của con người và muôn loài sau đó chi phối mọi hành vi, hoạt động, cả tập tính giống loài đặc trưng. Con sâu tạo kén, hóa nhộng thành bướm, con nhện biết giăng tơ, con tôm biết lột xác, con người với sự hiểu biết không ngừng nâng lên,… Tất cả những sự vật hiện tượng trên đều do phần tâm vô hình ảnh hưởng. Nếu phần tâm vô hình chỉ đơn thuần là một khoảng không vô thức nương gá vào phần thân xác hữu hình rồi tạo tác, thi vi tất cả mọi việc, lời nói này có vô lý, hư vọng, hoang đường không?
…
Vấn đề có vẻ phức tạp, trừu tượng. Vậy nên ta hãy đơn giản vấn đề. Hãy sống với hiện tại, sống với kiếp này! Hãy làm tốt những việc mình muốn làm, những hoài bão, những ước mơ, những mục đích mà ta muốn chạm đến. Kiếp sống hiện tại còn chưa tốt được thì lo nghĩ đi nhiều đến chuyện tương lai, chuyện hậu kiếp, tiền kiếp hay giải thoát hoàn toàn.
Bạn đã nói đúng. Đơn giản mọi vấn đề để sống chỉ biết lợi ích của cá nhân, đó là lối sống thực dụng đương đại đang chi phối toàn nhân loại. Con người hiện đại với sự chủ quan, bảo thủ, cố chấp, thực dụng đã đang và sẽ hủy hoại xã hội loài người cùng sự sống nơi hành tinh xanh. Chủ nghĩa thực dụng sẽ khiến mỗi người chìm đắm, sa lầy nơi cộng nghiệp với những khổ não khốn cùng, không lối thoát.
Có những sự việc đơn giản nhưng tri thức loài người đã khiến chúng trở nên phức tạp, trừu tượng. Vì vậy nên chỉ cần nhìn thẳng, đối mặt với sự phức tạp, trừu tượng ấy loài người sẽ nhận ra sự việc thật rất đơn giản, rõ ràng.
…
Vì vô minh và thực dụng mà loài người chấp nhận trói sự hiểu biết vào định kiến “Chết là hết”, việc làm chặn đứng sự hiểu biết khách quan, đúng mực ở nhân loại. Rồi nay khi lý luận “Chết là hết” bị bẻ gãy, sự hiểu biết nửa vời, chủ quan của loài người đã không còn đứng vững, bộc lộ những khiếm khuyết thì với sự nông nổi, thực dụng tri thức nhân loại không dám đối mặt, nhìn nhận sự sai lầm nơi tri thức loài người, tiếp tục khỏa lấp, che đậy sự yếu kém về nhận thức, tư duy nửa vời bằng “Hãy sống với hiện tại”.
Sống với hiện tại rồi sẽ đưa nhân loại về đâu nơi vòng xoáy chủ nghĩa thực dụng đang nhấn chìm giá trị con người nơi mỗi người?
Phải chăng Sống mà không biết đến ngày mai sẽ lại là một chọn lựa mới cho tương lai nhân loại?
Cuộc sống hiện tại rất bon chen, nghiệt ngã. Kiếp sống hiện tại đang mệt nhoài với những khổ não, lo toan; Nói về tiền kiếp, hậu kiếp, sự giải thoát hoàn toàn phỏng có ích gì?
Hãy lắng lòng! Hãy dừng lại! Một chút thôi! Hãy đón nhận một tri thức mới dường như khác lạ, lắng lòng nghe và sẽ chẳng mất gì.
Khi chiêm nghiệm lại tri thức nhân loại sẽ thừa nhận “Chết sẽ không hết”. Vậy vấn đề đặt ra “Nếu chết không hết thì ta sẽ về đâu, tiếp tục dòng tâm thức như thế nào? Sẽ là khổ não hay hạnh phúc?...”.
Tiền kiếp đã qua, mỗi người không cần và cũng không thể níu giữ. Chết đã không là hết thì mỗi người hãy tự chọn lựa lối đi cho hậu kiếp về sau? Là tiếp tục trôi lăn hay dừng lại, thoát ra khỏi quy luật luân hồi sinh tử?
Có thể chọn lựa lối đi nơi hậu kiếp được sao
Hiển nhiên là được. Tùy tâm ý dính mắc mà con người, muôn loài chọn lựa đời sống hậu kiếp song mỗi người phải ít nhiều biết đến sự chọn lựa thì việc chọn lựa lối tốt cho đời sau sẽ có sự tự chủ hơn.
Kiếp sau có liên quan đến kiếp này không?
Có. Nếu không có thì việc chọn lựa phỏng có ích gì?
Liên quan như thế nào?
Mọi thói quen, đam mê, sở thích, sự chăm chỉ hay biếng lười, tốt bụng hay xấu tánh,… tất cả những tâm tánh được góp nhặt, tích lũy qua mỗi đời kiếp sẽ ghi nhận nơi tâm thức mỗi người, đặc biệt là ở hiện kiếp. Những điều đó sẽ được lưu lại và sẽ hiển bày ra khi đủ duyên, kiếp sau của mỗi người sẽ do sự hiểu biết, trí tuệ ở kiếp hiện tại chi phối. Trở lại kiếp người hay lạc lối ở các nẻo khác cũng do tâm ý dính mắc, bị ràng buộc bởi nghiệp quả, báo ứng mà ra; Việc giải thoát hoàn toàn cũng do đời sống hiện kiếp quyết định.
Những tri thức này là nguồn triết lý của tôn giáo - đạo Phật. Thật khó thể tin nhận.
Đây là sự vô minh của nhân loại. Phật Thích Ca cũng như các vị Giác giả sau thời Phật Thích Ca không tạo ra một hệ thống tôn giáo hay một trường phái triết học để giành giật tín đồ hay gây dựng danh tiếng trên phạm vi nhân loại.
Nếu nhân loại biết đến sự hiểu biết đúng mực, khách quan, sáng rõ ẩn tàng nơi Tam Tạng kinh nhân loại sẽ được gì, mất gì?
Nếu không sớm nắm bắt được nguồn chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền phải chăng loài người sẽ trượt dài vào lối sống thực dụng, ích kỷ cùng tâm bão của lòng tham? Nếu điều đó xảy ra thì giá trị con người ở loài người liệu có còn không? Xã hội loài người sẽ về đâu với những chiến tranh, xung đột, hận thù tôn giáo, sắc tộc, người giàu - kẻ nghèo…?
Nếu mỗi mỗi con người trong nhân loại chạm đến sự hiểu biết có nơi giáo lý Tam Tạng kinh thì phải chăng lòng họ sẽ bình an hơn, họ sẽ sống chậm lại để cân bằng nội tâm, cuộc sống bằng sự hiểu biết đúng mực, khách quan?
Đừng vội nói giáo lý Phật Thích Ca không đúng, những điều tôi trình bày chẳng thật. Hãy tìm câu trả lời ngay chính sự hiểu biết khách quan nơi mỗi người!
…
Tri thức nhân loại đã vô minh khi nhìn nhận giáo lý chánh pháp có nơi pho Tam Tạng kinh là đạo Phật. Tri thức nhân loại vô minh khi không thể chạm đến sự hiểu đúng mực, khách quan, sáng rõ của chánh pháp và không ra sức phổ truyền chánh pháp.
Xã hội loài người đang trượt dốc trên sự hiểu biết chủ quan, nhận thức sai lầm và tư duy nông nổi.
Nếu nhân loại không thể trả lời được những câu hỏi “Nguồn cội sự sống, gốc tích con người đến từ đâu? Khi chết con người sẽ về đâu? Sẽ mãi là sự quẩn quanh luân chuyển hay sẽ có cách dừng lại, thoát ra?... thì nhân loại sẽ mãi lặn ngụp, đắm chìm trong sự vô minh bất tận.
…
Mục đích của việc giải mã đạo Phật đã hoàn mãn. Kết luận sau cùng là Phật Thích Ca không kiến tạo nên một hệ thống tôn giáo đạo Phật, Giác giả Thích Ca cũng không xây dựng một trường phái minh triết phương Đông, những điều được Phật Thích Ca truyền trao trong giáo lý Tam Tạng kinh chỉ là những pháp phương tiện nhằm chỉ bày cho tri thức nhân loại nhận diện ra sự thật về nguồn gốc sự sống, những quy luật vận hành, luân chuyển và cách thức thoát ra mọi ràng buộc, dính mắc việc khổ não, tử sinh. Khi nhân loại rõ biết về sự thật hiện tồn nơi cuộc sống thì mỗi người sự tự chọn lựa lối đi hợp với lòng mình.
Nhân loại đang chờ sự chọn lựa của mọi người, đó là Phật Di Lặc ra đời với thiên bá ức hóa thân.
(Hết)

Đơn nghiệp - Cộng Nghiệp

09:11 |

Mỗi một con người, mỗi một chúng sinh, mỗi một tâm ý sự sống đều mang nơi tâm thức vô số những nhân duyên, nghiệp quả vay trả - trả vay từ rất lâu xa và cứ thế trôi lăn mãi nơi lưới mộng luân hồi với vô vàn buồn vui, hơn thua, được mất.
Và trong khối tâm thức hỗn độn nơi mỗi tâm ý sự sống luôn tồn tại một niềm mong mỏi không khổ não, không tử sinh - việc giải thoát hoàn toàn. Song cuộc sống, sự sống với những ràng buộc, dính mắc cùng vô minh mà mỗi tâm ý sự sống thoạt nhớ, thoạt quên sự giải thoát hoàn toàn. Cùng với đơn nghiệp, cộng nghiệp những dòng tâm thức sự sống cứ trôi lăn vô định; một số tâm thức đối diện với khổ não, tử sinh cảm thấy sự nhàm mỏi, chán chường; Song đa số tâm thức khác do mãi mê hướng ngoại với những điều kỳ vọng huyễn hóa cơ hồ đã quên đi việc khổ não tử sinh nhưng rồi khi đối diện với vô thường thì nội tâm bấn loạn, hoang mang “Chết là hết” và “Ta sẽ chết, thật đáng sợ. Ta không muốn điều đó sẽ xảy ra với Ta, với người thân của Ta” nhưng làm sao có thể dừng được vòng quay sinh tử?
Vì lẽ đó trong nhân loại sẽ có, luôn có một dòng tâm thức tìm về sự giải thoát hoàn toàn. Đa số những tâm ý sự sống sẽ tìm đến các hệ thống tôn giáo nhằm lần về sự giải thoát hoàn toàn. Những người học Phật sẽ tìm đến đạo Phật nhưng vì bị lưới vô minh bủa vây họ hoang mang, bất định với đơn nghiệp và cộng nghiệp.
Đơn nghiệp là duyên nghiệp, quả nghiệp, nhân nghiệp nơi mỗi người. Khi đã mang thân người hay tồn tại ở một dạng chúng sinh bất kỳ nào đó thì ta sẽ dính mắc, ràng buộc bởi đơn nghiệp. Đơn nghiệp do mỗi tâm ý sự sống đã từng tạo ra từ rất nhiều kiếp sống lâu xa cùng với những nhân duyên kiến tạo ở kiếp hiện tại. Người học Phật vì muốn giải thoát hoàn toàn họ sẽ phải hóa giải những duyên nghiệp mà họ đang bị ràng buộc, cột trói.
Với những người học Phật một lòng tìm về sự giải thoát hoàn toàn song lại có định lực yếu kém khó thể đối mặt với Tham sân si mạn nghi, do rõ biết những người học Phật đó chẳng đủ khả năng thọ trì pháp môn đại thừa nên Phật Thích Ca bày ra phương tiện khéo - việc “Cắt ái, ly gia”. Vậy nên từ đó việc “Cắt ái ly gia” được phổ truyền cho giới xuất gia học Phật. Pháp phương tiện “Cắt ái ly gia” mà Phật Thích Ca áp dụng cho giới xuất gia có công năng đoạn dứt các duyên thường ràng buộc ở người học Phật căn cơ thấp, định lực mỏng, nội tâm yếu kém.
Vậy nên việc “Cắt ái ly gia” là trợ duyên giúp cho người học Phật tiến đến sự quyết liễu thoát sinh tử; Việc “Cắt ái ly gia” chưa từng là cứu cánh của sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Khi Phật Thích Ca còn tại thế thì việc chấp nhận cho người học Phật xuất gia được thực hiện khi người đó ít nhiều rõ biết về giáo lý đạo giác ngộ giải thoát và người học Phật sẽ được xuất gia khi xác định rõ đích đến mà họ mong mỏi là sự giải thoát hoàn toàn. Người học Phật khi xác định rõ đích đến là sự giải thoát hoàn toàn và hội đủ duyên thì mới được nhận vào giáo đoàn khất sĩ. Việc “Cắt ái ly gia”, việc không lưu trú cố định ở một trú xứ chính là nhằm vào mục đích giảm trừ các duyên ràng buộc, đoạn lìa nghiệp tương tục và việc khất thực tuần tự thứ lớp, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn là nhằm vào việc phá ngã ở người học Phật theo lối Thanh văn.
Do việc “Cắt ái ly gia” không hề là cứu cánh của đạo giác ngộ giải thoát nên Phật không từng thiết chế giới luật “Cắt ái ly gia” cho người học Phật. Với những người học Phật có pháp khí đại thừa Phật Thích Ca không từng dùng việc “Cắt ái ly gia” để hạn cuộc họ, mọi sự tùy duyên.
Ngày nay, vì không rõ chánh pháp nên đã có ít nhiều sự hiểu lầm nơi định kiến nhân loại - người học Phật nhất thiết phải “Cắt ái ly gia”, một sự hiểu biết sai lạc đã từng khiến giá trị chánh pháp có nơi giáo lý đạo Phật mất đi tính thực tiễn và sự khả dụng.
Nguyên nhân của việc bày phương tiện khéo “Cắt ái ly gia” ở vị Giác giả Thích Ca là vì người học Phật căn cơ bậc hạ dễ bị trói nơi đơn nghiệp và cộng nghiệp. Việc dính mắc đơn ngiệp - cộng nghiệp sẽ khiến người học Phật thường rơi vào tâm thái khổ não, lo toan; Người học Phật mà tâm không định sẽ khó thể chứng ngộ việc liễu thoát sinh tử. Việc học Phật chỉ thành tựu pháp vô sanh khi người học Phật phá ngã thành công trong khi con người lại thường trói vào ngã - cái tôi, ngã sở - cái của tôi. Một số người học Phật có thể hành trì ngỡ như không dính mắc ngã - cái tôi nhưng lại bị trói nơi cái của tôi - ngã sở. Sau rốt tương tác với duyên nghiệp thì người học Phật sẽ lại dính mắc bản ngã, việc liễu thoát sinh tử ở người học Phật đó vì thế bị chặn đứng.
Với những người học Phật thượng căn có pháp khí đại thừa, hành bồ tát đạo một khi sáng rõ chánh pháp thì tùy duyên tiêu nghiệp cũ; Ái dục, tham luyến, quyến thuộc,… nơi hiện kiếp không là chướng ngại đủ sức trói buộc chí xuất thế của người đã chứng ngộ pháp vô sanh, thâm nhập tận cùng lý sự vô thường.
…
Cộng nghiệp là những tác động chung, cộng nghiệp có sự chi phối đến đơn nghiệp mỗi người. Ở tầm nhìn tổng thể, khách quan, sâu rộng tri thức nhân loại sẽ dễ dàng nhận ra “Trong cái một có cái tất cả, trong cái tất cả có cái một” do vậy cộng nghiệp của mỗi tâm ý chúng sinh cũng không đơn thuần dừng lại ở những mối quan hệ huyết thống gần gũi trong gia đình mà dính mắc đến mọi tổ chức, cộng đồng, đất nước, xã hội con người và đến cả nhân loại, mọi loài, mọi sự vật hiện tượng. Thực tế là tác động của mỗi người ít nhiều đều tương tác đến với tất cả và ngược lại.
Cụ thể là với những xung đột vũ trang ở khắp nơi trên thế giới hiện nay và đến một lúc nào đó sự xung đột vượt giới hạn, một vài quả bom hạt nhân được kích nổ phải chăng vấn đề ảnh hưởng sẽ không dừng lại ở một vài quốc gia lân cận?
Và phải chăng với những xáo trộn ở cuộc di dân Châu Âu đã ảnh hưởng lan rộng vượt ra ngoài phạm vi của một Châu lục và sẽ gây ra những tác động có tính hệ lụy lâu dài?
Chiến tranh, xung đột vũ tranh, xung đột tôn giáo, sắc tộc, thiên tai, dịch bệnh, ngành công nghiệp,… đang ảnh hưởng khắp mọi ngóc ngách nơi xã hội loài người. Băng tan, động đất, núi lửa, sóng thần, bão tố, biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên,… đó là kết quả của cộng nghiệp nhân loại và cả loài người cùng muôn loài đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự hiểu biết sai lầm có tính kế thừa nơi tri thức, nhận thức nhân loại.
Nếu vẫn tiếp tục dấn thân xây dựng xã hội loài người dựa trên nền tảng sai lầm hiện nay thì nhân loại sẽ về đâu? Sự sống nơi hành tinh xanh này liệu sẽ có thể tồn tại được bao lâu nữa khi mà chủ nghĩa thực dụng đang nhấn chìm giá trị con người nơi mỗi con người?
Nếu trái đất nổ tung hay trở thành một hành tinh chết liệu còn có ai, có tâm ý sự sống nào còn lại nơi nấm mồ của cộng nghiệp nhân loại?
Nếu người học Phật không sáng rõ việc liễu thoát sinh tử sẽ tiếp tục trôi lăn và cùng với tâm ý những chúng sinh vô minh đi nhặt nhạnh, gom góp hình hài, thân xác trải qua hành tỷ, hành tỷ tỷ năm tương tục. Đó là cộng nghiệp nhân loại đã ảnh hưởng đến đơn nghiệp của mỗi người, mỗi loài.
…
Nếu tri thức nhân loại sớm nhận diện được sự hiểu biết đúng mực, khách quan, sáng rõ thì hẳn là việc duy trì sự sống nơi hành tinh xanh sẽ được kéo dài thêm. Tất nhiên là sẽ không có việc trái đất này không bao giờ tàn hoại nhưng nếu con người biết đến và sống đúng mực với chánh  pháp thì xã hội loài người sẽ dần tiến đến sự hài hòa, tiến bộ, bác ái; Chiến tranh, thù hận, xung đột giết chóc đồng loại sẽ giảm thiểu nơi nhân loại, xã hội loài người sẽ an toàn, văn minh hơn.
Hành tinh xanh còn tồn tại thì việc liễu thoát sinh tử cho dòng tâm ý sự sống nhàm chán sinh tử sẽ có thêm nhiều cơ may. Và trên tất cả là xã hội con người sẽ giảm thiểu sự khốn cùng, hỗn độn, rối ren khi giá trị con người hiển lộ.
Do vậy… Nên chăng con người khi tìm đến đạo Phật và nhận ra chánh pháp thì hãy vì nhau ra sức nâng cao ngọn đuốc chánh pháp, trả tri thức đúng mực, khách quan về sự tồn tại dòng lưu chuyển tâm ý sự sống cho sự hiểu biết nhân loại, là việc làm có tính chất cứu cánh, sống còn đối với sự tồn tại hay tàn hoại của hành tinh xanh. Đây là đơn nghiệp ảnh hưởng, chi phối lại cộng nghiệp nhân loại.

Bồ tát - Thanh văn

23:40 |

Bản đồ Thập pháp giới cũng chính là ngụy thư trong giáo lý đạo Phật. Bản đồ Thập pháp giới minh chứng cho sự vô minh của người học Phật, sự vô minh tham đắm bản ngã thường tại. Bản đồ Thập pháp giới thể hiện sự móng cầu của người học Phật về sự thường trụ nhằm thọ hưởng Thường an lạc tịnh ở trạng thái niết bàn.
Khi Thái tử Tất đạt đa chưa chứng ngộ vạn pháp, Tam giới đã được các hệ thống tôn giáo khác nhau nơi lưu vực sông Hằng phân định rất rắc rối, phức tạp; Mỗi hệ thống tôn giáo khác nhau phác họa ra vô số cõi giới vô hình khác nhau.
Với mục đích làm sáng rõ các cõi giới vô hình ngõ hầu giúp người tìm đến chánh pháp dễ dàng nhận ra chân tướng, thể tánh các cõi giới Phật Thích Ca mới giả lập phân định lại Tam giới gồm 3 cõi 6 đường rành rẽ. Vậy nên thật không có lý khi về sau Phật Thích Ca hay những Giác giả khác lại lập ra thêm 4 Pháp giới - Phật, Duyên giác, Bồ tát ,Thanh văn nằm bên cạnh 6 Pháp giới - Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục. Tương tự như vậy việc chia chẻ nhỏ vụn các Tầng trời, các cõi giới vô hình là sự tạp nhiễm tư tưởng ngoại đạo do người học Phật còn trong lưới vô minh vụng về kết tập vào giáo lý đạo Phật.
…
Ở kinh điển nguyên thủy Phật giáo hầu như không đề cập đến sự tồn tại của các vị Bồ tát, Phật cùng những hóa thân... Ngược lại, kinh điển Phật giáo đại thừa thì có vô số hà sa những vị Phật, Bồ tát ở khắp mọi nơi, các hóa thân Phật, Bồ tát,… thường hóa hiện mỗi khi Phật Thích Ca thuyết pháp.
Tại sao có sự dị biệt giữa kinh điển nguyên thủy và kinh điển đại thừa ở đạo Phật?
Phải chăng những vị Phật, Bồ tát, các vị Phạm thiên, Thiên nữ, Thiên ma,… hóa hiện trong Tam Tạng giáo điển thật sự đã hiện thân và các vị đệ tử Phật cùng đại chúng đều có thể nhìn thấy, hỏi đáp trực tiếp?
Thật ra tất cả hóa thân Phật, Bồ tát, Phạm thiên, Thiên ma, Thiên nữ,… đều do Phật Thích Ca hoặc những vị Giác giả dựng lên. Thực tế là đại chúng học Phật chẳng thể nhìn thấy hay đối thoại trực tiếp với những hóa thân Phật, Bồ tát giả lập.
Vậy Phật Thích Ca hay những vị Giác giả hóa hiện những hóa thân Phật, Bồ tát là nhằm vào mục đích gì?
Mục đích chung nhất của những vị Giác giả là hiển bày sự sáng rõ về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Đặc biệt, muốn truyền trao giáo lý đạo giác ngộ giải thoát hoàn toàn Giác giả phải dựa trên nền tảng trung đạo, đây là việc làm đúng mực, khách quan ngõ hầu tránh cho cuộc pháp đàm độc thoại hoặc việc truyền pháp rơi vào biên kiến, thoát khỏi lưới nhị nguyên dính mắc. Chính vì vậy mà chân kinh do Giác giả thuyết thường không hạn cuộc vào biên kiến, Phật Thích Ca không tự khởi việc thuyết pháp mà không có đối tượng vấn hỏi. Đây cũng là một trong những nguyên tắc nhằm giúp người học Phật đúng mực nhận diện chân kinh - ngụy kinh.
Một buổi pháp thoại của Giác giả hoàn mãn, lợi lạc cho đại chúng là một cuộc thảo luận dựa trên nhiều yếu tố, trong đó ngoài những câu trả lời hay đúng, trọn vẹn còn phải có câu hỏi khéo, khế hợp với nội dung của từng cuộc pháp đàm.
Thế nên, sau mỗi lần trùng tuyên thì những buổi pháp thoại sơ khai, ban đầu ở giáo lý đạo Phật được hoàn chỉnh về vai trò người hỏi, kẻ đáp. Nơi Phật Thích Ca truyền đạo là các nước quanh lưu vực sông Hằng, là cội nguồn của nền văn hóa sử thi. Việc lưu truyền chánh pháp lúc bấy giờ là hình thức truyền miệng thế nên sau mỗi buổi pháp đàm thì nội dung của những cuộc pháp thoại được chuyển thể thành những bài thi kệ dễ thuộc, dễ nhớ, dễ truyền miệng. Đây là cách thức truyền giữ chánh pháp ở đạo Phật nguyên thủy chân phương. Những bài thi kệ về lời Phật Thích  Ca trao đổi cùng đại chúng chính là bản gốc của pho Tam Tạng giáo điển ngày nay.
…
Dù rằng người học Phật có trí tuệ, nhiều hiểu biết theo Phật Thích Ca quy y không hề ít nhưng trí hiểu biết thế gian thật không đủ khả năng mở lời tham vấn chỗ tột cùng, thậm thâm, vi diệu của chánh pháp nhãn tạng Như Lai. Những bậc Giác giả nhận ra nếu không hiển bày chỗ cùng tột của trí tuệ bát nhã thì người học Phật ngày sau khó thể thâm nhập, lĩnh hội hoàn toàn pháp yếu vi diệu, bất khả tư nghị.
Khởi từ dụng tâm sâu sắc Phật Thích Ca cùng những bậc chứng ngộ đã dùng đến phương tiện hóa thân Phật, Bồ tát,… để diễn nói những bài pháp thoại trọn vẹn, rõ ràng. Sơ khởi những vị hóa thân Phật, Bồ tát, Thiên ma, vua Trời,… hiện diện chỉ như là một thính chúng đến nghe pháp thoại về sau họ ứng tiếng, mở lời ngõ hầu dẫn dắt đại chúng, người học Phật thâm nhập, lĩnh hội giáo pháp vi diệu, bất khả tư nghị.
Một nguyên nhân khác dẫn đến việc hóa hiện ra những hóa thân Phật, Bồ tát là trong quá trình hành đạo, truyền đạo Phật Thích Ca không phải luôn luôn có sự kề cận của những bậc đại trí Xá lợi phất, Tu bồ đề, Ma ha Ca chiên diên, Phú lâu na,… Chỉ có thị giả, ngài A Nan thường đi cùng với Phật Thích Ca, song với sở cậy đa văn ngài A Nan không đủ khả năng để đảm nhận vai trò người hỏi khéo.
Hơn nữa, ngay cả đến bậc đại trí Xá lợi phất cũng không đủ tuệ giác để tham vấn giáo lý chánh pháp ở những chỗ vi diệu, tột cùng. Chính vì nhu cầu cần có người hỏi khéo mà rất nhiều hóa thân Bồ tát đã được Giác giả hóa hiện, trong số đó có ngài Văn Thù Sư Lợi. Tuy nhiên, hóa thân Văn Thù Sư Lợi đã hóa hiện ở vai trò một vị đại bồ tát thuộc thành phần xuất gia, chính vì vậy có những vấn đề liên quan đến sự sáng rõ chánh pháp ở nẻo đời mà với vai trò người xuất gia Văn Thù bồ tát không thể tham vấn Giác giả.
Về sau, vì nhận biết các vị cao đồ như Xá lợi phất, Mục Kiền Liên, Ma ha Ca diếp, Ma ha Ca chiên diên, A na luật, A Nan,… rơi vào biên kiến - Thanh văn, tiểu thừa nên Giác giả đã hóa hiện Bồ tát Duy ma cật, một vị cư sĩ tại gia với biện tại vô ngại khéo léo chỉ ra những hạn chế có ở mười vị cao đồ của Phật Thích Ca (nói riêng), người học Phật (nói chung) cùng những giới hạn mà những hóa thân Bồ tát tiền nhiệm đã không đủ khả năng thỏa mãn.
Bồ tát Duy ma cật được Giác giả hóa hiện ra ngõ hầu hiển bày pháp môn bất khả tư nghị giải thoát, đây là việc làm nhằm phá bỏ biên kiến sai lạc của người học Phật vô minh - Việc nhận định chỉ có Tăng bảo mới triệt ngộ chánh pháp Như Lai; Người xuất gia là thành phần học Phật duy nhất có cơ may đạt sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Thực tế là nơi nào có sự khổ, có chúng sinh cần đến sự giải thoát hoàn toàn thì chánh pháp Như Lai mới thật sự đắc dụng. Do vậy tính khả dụng, thực tiễn của chánh pháp Như Lai là ở nẻo đời, nơi có rất nhiều khổ não nhân sinh. Giác giả với hóa thân cư sĩ Duy Ma Cật sẽ giúp cho người học Phật nhận chân rằng nơi nẻo đời mới tựu thành những bậc Đại bồ tát bất khả tư nghị, là cứu cánh của đạo giác ngộ giải thoát hoàn toàn; Người xuất gia ở nẻo đạo - Tăng bảo do hạn cuộc biên kiến, ít khổ não, sự hiểu biết rơi vào một bên nên chỉ là người học Phật Thanh văn, tiểu thừa. Chánh pháp Như Lai không thể bừng sáng, tỏa rạng mang lại cứu cánh giải thoát cho nhân loại với những người học Phật theo đường lối tiểu thừa cùng với sự chứng ngộ hạn chế, hẹp lượng.
Vì mục đích rộng truyền chánh pháp những bậc Giác giả đã cho ra đời rất nhiều hóa thân Phật, Bồ tát, cư sĩ,... Nếu người học Phật giữ tâm an tịnh quán chiếu lại những bộ kinh đại thừa sẽ nhận thấy phần lớn những người đến tham vấn Phật từ hàng cư sĩ tại gia, tín đồ ngoại đạo, đệ tử Phật, đến cả những người thuộc tầng lớp hạ tiện, thấp hèn đều có đủ biện tài chất vấn ngài Xá lợi phất, Văn Thù bồ tát,… Thêm nữa, sau khi được Phật chỉ bày chánh pháp thì tất cả đều đủ thông tuệ để làm những bài kệ lưu loát, đúng mực. Vậy nên tất cả những bài pháp thoại Phật Thích Ca và Giác giả thuyết đều đã được trùng tuyên và hoàn chỉnh theo một lộ trình gọt dũa, trao chuốt, tỉ mỉ nhằm lưu lại cho nhân loại một pho giáo lý chánh pháp nhãn tạng Như Lai hoàn chỉnh
Mỗi hóa thân Phật, hóa thân bồ tát là bóng dáng, hạnh nguyện của những người học Phật tín thành hoặc là chính tâm Phật hóa hiện ra ví như Văn Thù bồ tát là hóa thân bồ tát biểu trưng cho trí tuệ của Phật, Bồ tát Duy ma cật là bóng dáng của vị trưởng giả Cấp cô độc Tu đạt đa (Sudatta), đồng thời cũng là hóa thân của Phật ở nẻo đời…
Thực tế là Phật Thích Ca (nói riêng), Giác giả (nói chung) xem trọng hạnh nguyện bồ tát ở giới cư sĩ tại gia hơn là lối tu Thanh văn ở những người xuất gia, những người học Phật chỉ đảm nhận vai trò truyền giữ chánh pháp.
Có thể đã có rất nhiều người xem nội dung sách Giải mã đạo Phật ít nhiều tin nhận về những điều tôi đã trình bày. Nhân đó sẽ có không ít người vọng chấp cho rằng Phật Thích Ca thật hư vọng khi bày ra những hóa thân Phật, Bồ tát không thật, hoang đường. Phật Thích Ca, những vị Giác giả chỉ khéo dựng ra những điều trá ngụy, hư vọng.
Nên chăng hãy xác định lại mục đích của mỗi người khi tìm đến đạo Phật và nên chăng xét lại mục đích rốt ráo, sau cùng của những vị Giác giả khi bày ra những pháp phương tiện khéo? Mục đích của họ là gì? Có phải họ làm vì lợi dưỡng, lợi danh, vì chính họ không?
Chớ trách những vị Giác giả bày ra những điều hư vọng, bối cảnh xã hội thời Phật Thích Ca tại thế xa xưa có những thuận lợi, có những khó khăn nhất định do vậy Giác giả, người có tâm bi mẫn với mọi loài phải dụng tâm bất khả tư nghị. Có chăng nhân loại nên trách người học Phật, người tìm về chánh pháp, người nghiên cứu Phật học nông nổi, mê mờ lấy ngụy làm chân mà không sáng rõ con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn mà tiền nhân đã mấy phen hiển bày?
Lời Phật Thích Ca là hư vọng?
Nếu nhân loại và người học Phật muốn nhận định như vậy thì cũng không sao cả. Vì Phật Thích Ca từng thuyết “49 năm ta không nói một lời”, vậy nên tất cả chỉ do người không tự nhận biết.
Khi tham cứu kinh Pháp Hoa cũng như ở rất nhiều bộ kinh khác trong pho Tam Tạng kinh người học Phật sẽ nhận ra Giác giả từng nói Như Lai thuyết tất cả pháp chỉ là pháp dụ, là pháp phương tiện khéo nhằm đưa người mê, những chúng sinh vô minh về bờ giác ngộ. Tiếc rằng chỉ do người học Phật vô minh mà mãi ngồi giữ chiếc bè, hoặc vác chiếc bè lên vai hoặc lấy giả làm chân, mê mờ tự tánh.
…
Bồ tát là ai?
Có ai không là bồ tát?
Khi bạn làm một điều tốt dù vô tình hay cố ý thì bạn cũng đã là một vị bồ tát trong cái nhìn của người thọ ơn. Đó là tâm bồ tát thường tại, luôn có nơi mỗi người - Phật tánh. Tất cả chúng ta, ai cũng có một giá trị, một lợi ích nhất định nào đó cho cuộc sống. Có thể là lợi ích ta mang lại cho một người, cho nhiều người hoặc cho chính ta, ta sống có lợi ích thì ta là bồ tát.
Do vậy người học Phật đừng vọng cầu về một vị bồ tát vô hình sẽ nâng đỡ, chỉ lối ta đi. Sẽ không có vị bồ tát ở cõi giới vô hình nào đủ năng lực làm điều đó ngoại trừ bản tâm chánh định, chánh trí của chính mỗi người ra sức.
Những vị bồ tát chứng đắc vô sanh đã trở về vạn pháp, những người học Phật khi triệt ngộ tánh không sẽ không một ai dính mắc việc trở lại hoằng dương chánh pháp.
Vì sao những Giác giả sẽ không trở lại nhập thế ra sức truyền trao chánh pháp?
Vì họ đã thấu rõ 3 cõi 6 đường hư vọng, huyễn hóa chẳng thật, một khi chánh pháp còn lưu truyền trong nhân loại thì sẽ có Giác giả ra đời, họ không nhất thiết phải trở lại nẻo người để dính mắc vào vạn pháp. Người học Phật triệt ngộ hoàn toàn đã không còn ràng buộc vào nhân ngã, họ đã trở thành Như Lai không đến không đi.
Khi chứng ngộ hoàn toàn vạn pháp người học Phật sẽ tùy duyên tiêu nghiệp cũ, ra sức hành bồ tát đạo, nâng cao ngọn đuốc chánh pháp và trao truyền chánh pháp đến với mọi người.
Việc làm tùy thuận, khế hợp nhân duyên. Xong việc là dừng.
Thanh văn là ai?
Thanh văn là những người học Phật dựa vào giáo lý Tam Tạng kinh. Giới Tăng Bảo chính là tầng lớp Thanh văn chính yếu.
Thật vậy, đa số người học Phật ở thành phần xuất gia là những người học Phật Thanh văn. Tăng bảo chính là tầng lớp Thanh văn được Phật gửi gắm việc truyền giữ pho Tam Tạng kinh quý giá.
Phật Thích Ca dấn thân truyền đạo đến với nhân loại thông qua giáo đoàn khất sĩ, môn đồ của Phật vốn rất nhiều nhưng có không nhiều vị chứng ngộ chánh pháp ở pháp môn đại thừa. Đa phần người học Phật thời Phật tại thế chứng ngộ A la hán ở pháp môn tiểu thừa - Thanh văn. Đó là sự hạn chế thường thấy ở thành phần Tăng Bảo, người xuất gia. Ngài Ca diếp, A Nan, A na luật, La hầu la,… đều rơi vào biên kiến - Thanh văn, tiểu thừa. Tất nhiên là họ từng ra sức hành bồ tát đạo, thị hiện pháp khí đại thừa nhưng việc không triệt ngộ vạn pháp đã phần nào chướng ngại việc hoằng pháp ở những vị cao đồ của Phật Thích Ca.

Huyền môn và đạo Phật

19:52 |

Vạn pháp duy tâm, Tam giới duy thức.
Đạo Phật ngày nay đã lan rộng ở phạm vi thế giới song chiếc chìa khóa có công năng khai mở trí tuệ bát nhã ngõ hầu giúp loài người chạm đến sự hiểu biết sáng rõ về nguốn gốc con người - sự sống, tự tánh Như Lai cũng như cách thức vượt thoát khỏi quy luật sinh tử cơ hồ đã không còn hữu dụng.
Vì sao lại như vậy?
Ngày nay, thế giới tâm linh được nhiều người tin nhận, việc luân hồi, sự giải thoát hoàn toàn đã có rất nhiều người biết đến khi tìm hiểu đạo Phật song vẫn chưa có người tìm ra được lối thoát khỏi luân hồi. Nguyên nhân là do niềm tin không đủ chăng? Hay do sự hiểu biết thiếu đi tính khách quan, sáng rõ, đúng mực?
Một trong những nguyên nhân khiến chánh pháp nơi đạo Phật không mang lại trí bát nhã cho người học Phật đó chính là yếu tố huyền học, bí thuật. Yếu tố huyền học là phần giáo lý bị bỏ ngỏ nơi những lời Phật Thích Ca tuyên thuyết.
Vì sao Phật Thích Ca bỏ ngỏ yếu tố huyền học trong giáo lý giác ngộ giải thoát hoàn toàn?
Vì huyền học sẽ gây ra sự chướng ngại cho người tìm cách thoát khổ, liễu thoát sinh tử. Phật Thích Ca, Giác giả rõ biết giá trị, vị trí của huyền học. Huyền học gần như vô nghĩa đối với việc giải thoát hoàn toàn của con người. Hơn nữa, lúc bấy giờ những người tìm đến học hỏi giáo lý giác ngộ giải thoát không dính mắc nhiều về vấn đề huyền học. Do vậy mà Phật Thích Ca đã không đề cao huyền học, không đặt huyền học vào nơi giáo lý Tam Tạng kinh.
Song người học Phật ngày nay, phần nhiều không rõ gốc ngọn nên tin nhận bùa chú, huyễn thuật, tử vi, bói toán… Do dính mắc yếu tố huyền học nên việc học Phật của con người ngày nay có sự nghẽn lối, vấp nhiều chướng ngại.
…
Lẽ ra người học Phật ngày nay nên nhớ việc quy y Tam bảo một cách đúng mực. Quy y Tam bảo với lời răn của Lục Tổ Huệ Năng:
- Quy y Phật, quy y Giác, Lưỡng túc tôn.
- Quy y Pháp, quy y Chánh, Ly dục tôn.
- Quy y Tăng, quy y Tịnh, Chúng trung tôn.
Từ nay trở đi nương Giác - Chánh - Tịnh làm thầy, trọn chẳng quy y tà ma, ngoại đạo.
Này thiện tri thức! Ta khuyên thiện tri thức hãy nên quy y Tự tánh Tam bảo. Phật tức Giác, Pháp tức Chánh,Tăng tức Tịnh. Tự tâm quy y Giác thì tà mê chẳng sinh, thiểu dục tri túc hay lìa Tài - Sắc nên gọi Lưỡng túc tôn. Tự tâm quy y Chánh là niệm niệm chẳng tà kiến, vì chẳng có tà kiến nên chẳng có nhân ngã, cống cao, tham ái, chấp trước nên gọi là Ly dục tôn. Tự tâm quy y Tịnh là tự tánh đối với tất cả trần lao ái dục đều chẳng nhiễm trước, gọi là Chúng trung tôn.
Nếu tu hạnh này là tự tánh quy y. Người kém trí hư vọng, mê muội từ sớm đến tối thường khuyên người thọ Tam quy y mà chẳng hiểu. Nếu nói quy y Phật, Phật ở chỗ nào? Nếu chẳng thấy Phật thì dựa vào đâu quy y? Nói ra lại thành vọng.
Này thiện tri thức! Mọi người hãy xem xét kỹ, chớ lầm dụng tâm. Trong kinh nói rõ ràng là quy y tự tánh Phật, chẳng có nói quy y tha Phật. Tự tánh Phật chẳng quy y thì đâu còn chỗ nào quy y nữa.
Nay ta nói cho các người rõ về sau mỗi mỗi đều phải quy y Tự tánh Tam bảo, bên trong sửa đổi tâm tánh, bên ngoài kính mến mọi người tức là tự quy y vậy.
…
Huyền môn có thật không? Câu trả lời hiển nhiên là huyền môn có thật. Lá số tử vi, kinh dịch, bói toán, thuật chiêm bốc, bùa chú, huyễn thuật… tất cả những gì liên quan đến huyền học đã hiện tồn và trói buộc cũng như tương tác với xã hội loài người trải suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Vì lẽ đó chẳng thể nói huyền môn không thật có, song tự tánh vạn pháp là không, là huyễn nên huyền môn cũng hư huyễn, chẳng thường tại; Do vậy tự tánh huyền môn đồng thời cũng là không.
Sắc tức thị không, không tức thị sắc; Sắc bất dị không, không bất dị sắc thế nên khi con người dùng ý thức, nhận thức, tư duy dựa trên nền tảng nhị nguyên để biện luận sự có không của mọi sự vật, hiện tượng thì con người sẽ nhận thấy có Có, có Không. Tuy nhiên, khi vượt ra khỏi giới hạn nhận thức, tư duy nhị nguyên và thâm nhập vào tự tánh, bản chất của mọi sự vật, hiện tượng với trí tuệ bát nhã thì con người sẽ nhận ra Có và Không là tướng đối đãi chẳng thật; Có - Không nương nhau mà lập, nương nhau mà hoại song Có cũng là Không, Không cũng là Có. Vì bởi Có - Không chuyển biến qua lại, thường hoán đổi vị trí cho nhau theo tự tánh vô thường của vạn pháp; Có - Không không có tánh cố định, thường tại; Có - Không được giả lập nên là do hội đủ yếu tố duyên.
Vì thế nên với một sự khách quan, sáng rõ, đúng mực con người sẽ nhận ra vạn pháp vốn thật chẳng phải có, chẳng phải không; Việc khẳng định, xác quyết Có - Không ở mỗi sự vật, hiện tượng (nói riêng), vạn pháp (nói chung) chỉ là cách nhìn nhận vấn đề rơi vào biên kiến chủ quan, cực đoan, bảo thủ.
Bởi do rơi vào biên kiến hoặc nhị nguyên nên đã từ lâu tri thức, nhận thức, tư duy của loài người đã không còn thật đúng về bản chất mọi sự vật hiện tượng và cả con người. Và đó cũng chính là nguyên nhân, là giềng mối khiến cho xã hội loài người lâm vào hiện cảnh hỗn độn, rối ren, khốn cùng với chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh cùng sự tàn hoại, diệt vong.
…
Tại sao huyền môn lại đúng với thưc tế đời sống con người?
Vì Tam giới duy tâm, Tam giới duy thức. Những quy ước, định mức có nơi huyền môn được giả lập nơi tri thức loài người đã âm thầm dính mắc, ràng buộc tâm ý sự sống nơi loài người trải qua vô số kiếp luân hồi từ lâu xa. Ngay cả chúng sinh nẻo không thân cũng chịu sự chi phối của huyền môn bởi do tri kiến lập tri khi còn hiện hữu ở nẻo người.
Song giá trị của huyền học chỉ dừng lại ở tính tương tác đa phương mà không có tính cố định tuyệt đối. Bởi do huyền học chịu sự chi phối bởi ba yếu tố không thể tách rời là Thiên Địa Nhân. Vì lệ thuộc vào cả ba yếu tố Thiên Địa Nhân nên huyền học không nhất thiết phải luôn đúng, do vậy nếu biết cách tác động vào một trong ba yếu tố Thiên Địa Nhân, cách hành xử thay đổi thì con người ít nhiều có thể cải biến thực tiễn và huyền học.
Tuy nhiên, những lợi ích của huyền học mang lại cho con người là ở hiện kiếp, là ở pháp thế gian. Nếu người học Phật mãi dính mắc vào huyền học dễ thường tăng trưởng bản ngã, một số vì vô minh mà can thiệp vào quy luật nhân quả khách quan của quy luật luân hồi, việc tạo tác những điều không đúng mực, sáng suốt sẽ khiến người học Phật trôi lăn nơi Tam giới.
Tóm lại, huyền học là pháp thế gian với những điều huyễn hóa, huyền hoặc, thần thông, bùa chú,… Nếu muốn học Phật đạt pháp xuất thế gian, vượt khỏi sinh tử luân hồi thì người học Phật hãy hạn chế dính mắc đến những yếu tố huyền học.
Người học Phật tìm đến đạo Phật cần sáng rõ mục đích của mình - chánh kiến, khi đã có chánh kiến rõ ràng, việc giải thoát hoàn toàn thì hãy giữ vững chánh định ngõ hầu đạt được mục đích tối hậu. Nhược bằng người học Phật muốn học hỏi huyền học thì giáo lý Tam Tạng kinh khó thỏa mãn điều kỳ vọng đó.
Thêm nữa, người học Phật nên rõ biết còn sinh là còn tử; Thể nhập niết bàn tịch diệt không phải là việc đắc quả A la hán rồi về Chân như thọ dụng Thường an lạc tịnh; Như Lai là không đến không đi, không sinh không diệt. Người học Phật mà không buông xả bản ngã thì không thể giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Việc học Phật của con người sau rốt cũng chỉ là sự chọn lựa. Hoặc là tiếp tục trôi lăn trong quy luật luân hồi sinh tử, nhân quả vay trả - trả vay; Hoặc nếu nhàm chán việc sinh tử quẩn quanh thì hành trì phá ngã vượt thoát khỏi luân hồi. Giác giả Thích Ca trao truyền chánh pháp nhãn tạng Như lai với yếu quyết “Pháp hay chẳng trói buộc người”. Phật Thích Ca chỉ rõ quy luật vận hành của luân hồi, tự tánh vạn pháp còn việc chọn lựa lối đi mai hậu là do tự mỗi người, mỗi tâm ý sự sống quyết định.